Tạo ra để đi xem phim

Tạo ra để đi xem phim female

15/10/2026
09/10/2026
09/10/2026

NOBEL VĂN HỌC 2026: NGƯỜI ĐÀN BÀ NGHE GIÓ, VÀ VÌ SAO TA KHAO KHÁT NHẤT ĐIỀU MÌNH KHÔNG CÓ

Sáng ngày 8 tháng 10 năm 2026, ở Iceland, điện thoại của một người đàn bà bảy mươi sáu tuổi đổ chuông. Đầu dây bên kia là Ingrid Carlberg, thư ký thường trực Viện Hàn lâm Thụy Điển, gọi từ Stockholm để báo rằng bà vừa được trao giải Nobel Văn học. Cuộc gọi ngắn, và theo lời chính bà kể sau đó, khá ngắc ngứ. Bà chỉ kịp nói rằng mình đang ở Iceland, và đang nghe gió.

Cũng trong ngày, khi đài phát thanh RÚV của Iceland hỏi bà cảm thấy thế nào, Anne Carson trả lời: “Điên thật. Tôi nghĩ họ điên hết cả rồi.” Rồi bà đùa rằng từ nay bìa sách của mình sẽ có thêm một cái nhãn dán.

Viện Hàn lâm trao giải cho bà “vì một sự nghiệp sáng tác táo bạo và đầy sáng tạo, qua cuộc đối thoại tinh nghịch với truyền thống cổ điển, đã tạo nên những hình thức mới cho văn học đương đại”. Bà là người viết sinh ra ở Canada thứ ba nhận giải này, sau Saul Bellow và Alice Munro, và là người phụ nữ thứ mười chín trong lịch sử giải.

Có một điều trớ trêu mà những người đọc Carson nhận ra ngay. Cuốn sách đầu tiên làm nên tên tuổi bà, viết từ bốn mươi năm trước, nói rằng con người khao khát nhất chính những gì mình không có, và rằng khao khát sống được là nhờ khoảng cách. Giờ đây, người phụ nữ ấy nhận cái giải thưởng mà giới văn chương thèm muốn nhất thế giới, trong lúc đang nghe một thứ không ai nắm được trong tay.

Câu hỏi bà đặt ra năm 1986 vẫn còn nguyên, và khoa học về tình yêu đã mất ba mươi năm để trả lời nó: có phải ta yêu một người nhiều nhất khi chưa có được họ? Và nếu đúng, đó là quy luật của tình yêu, hay là một cái bẫy?

NGƯỜI DẠY TIẾNG HY LẠP CỔ ĐỂ KIẾM SỐNG

Anne Carson sinh năm 1950 ở Toronto. Bà bắt đầu học tiếng Hy Lạp cổ từ thời trung học, bỏ đại học hai lần trước khi học xong, rồi trở thành tiến sĩ ngành cổ điển học, dạy ở Princeton, McGill, Michigan, New York. Bà kín đáo đến mức tiểu sử in trên sách của mình thường chỉ có một dòng: “Anne Carson sinh ra ở Canada và dạy tiếng Hy Lạp cổ để kiếm sống.”

Nhưng thứ bà viết thì không giống ai. Có tiểu thuyết viết bằng thơ, kể lại một thần thoại Hy Lạp thành chuyện trưởng thành của một chàng trai. Có “tiểu luận hư cấu trong hai mươi chín điệu tango” về một cuộc hôn nhân tan vỡ. Có một cuốn sách đựng trong hộp, chỉ là một tờ giấy dài gấp kiểu đàn xếp. Có một tập gồm hai mươi hai tập thơ mỏng rời nhau, đọc theo thứ tự nào cũng được. Năm 2024, bà cho biết mình mắc bệnh Parkinson, và đang tập đấm bốc để trị liệu.

Cũng hôm ấy, bà nói với RÚV thêm một câu: lúc này thơ có lẽ hữu ích hơn văn xuôi, vì thơ nhanh hơn.

Và tất cả bắt đầu từ một chữ duy nhất của một nữ thi sĩ sống cách đây hai nghìn sáu trăm năm.

NGỌT TRƯỚC, ĐẮNG SAU

Trên đảo Le**os, khoảng thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, Sappho đã ghép hai chữ thành một: glukupikron, nghĩa là ngọt đắng. Bà dùng nó để gọi tên thần Eros, vị thần của tình yêu và khao khát. Carson dịch câu thơ ấy theo đúng thứ tự gốc, ngọt trước, đắng sau, “một sinh vật ngọt đắng, không sao chống lại, cứ thế lặng lẽ trườn đến”.

Năm 1986, từ luận án tiến sĩ của mình, Carson xuất bản cuốn “Eros the Bittersweet”, tạm dịch là “Eros ngọt đắng”. Lập luận của bà gói trong một nhận xét về chính con chữ: trong tiếng Hy Lạp, eros có nghĩa là thiếu, là muốn, là khao khát điều đang vắng. Rồi bà hỏi một câu mà ai từng yêu cũng phải ngừng lại: “Có ai từng khao khát điều chưa mất đâu? Không ai cả.”

Bà đọc lại một bài thơ nổi tiếng của Sappho, bài thơ mà “tôi” nhìn một người đàn ông ngồi đối diện người mình yêu, lắng nghe nàng nói và cười, và thấy mình tan ra: tim đập loạn, lưỡi như gãy, lửa chạy dưới da, mắt không còn thấy gì. Carson nhận ra bài thơ không có hai nhân vật, mà ba: người yêu, người được yêu, và cái chen vào giữa họ. “Hình dạng của nó là một tam giác.” Cái thứ ba có thể là một người tình địch, một lời cấm đoán, một khoảng cách, một nỗi không chắc chắn. Nói theo hình ảnh của bà, nếu bỏ nó đi, tam giác sẽ sụp xuống thành một đường thẳng, và eros tắt.

Vì thế, bà viết, eros là chuyện của những ranh giới. Nó tồn tại vì có những ranh giới tồn tại. Chạy đến hụt hơi mà chưa tới nơi, chính điều ấy đã là niềm vui.

Năm 1986, đó là một nhận xét về văn chương Hy Lạp cổ. Rồi nó cũng hiện ra trong phòng thí nghiệm.

KHOA HỌC ĐO ĐƯỢC CÁI THIẾU

Năm 2011, nhà tâm lý học Erin Whitchurch và Timothy Wilson ở Đại học Virginia cùng Daniel Gilbert ở Harvard cho bốn mươi bảy nữ sinh xem hồ sơ Facebook của bốn nam sinh, và nói rằng các chàng trai này cũng đã xem hồ sơ của họ. Một nhóm được cho biết các chàng trai thích họ rất nhiều. Một nhóm được cho biết các chàng trai thích họ ở mức bình thường. Nhóm thứ ba được cho biết: không rõ, có thể nhiều, có thể bình thường.

Nhóm thứ ba, nhóm không chắc chắn, thấy các chàng trai hấp dẫn nhất, hơn cả nhóm được thích nhiều nhất. Và họ cũng nghĩ về các chàng trai nhiều hơn hẳn. Các tác giả cho rằng có lẽ chính việc không biết người kia có thích mình hay không khiến tâm trí cứ quay lại câu hỏi ấy, và mỗi lần quay lại, sức hút lại tăng thêm.

Nhà thần kinh học Kent Berridge cho biết vì sao. Từ cuối những năm 1990, ông chỉ ra rằng chất dopamine trong não không làm ta thích một thứ, mà làm ta muốn nó. Thích và muốn là hai hệ khác nhau. Cái muốn có thể lớn lên mãi trong khi cái thích đứng yên. Một nghiên cứu khác trên khỉ còn thấy tín hiệu dopamine mạnh nhất khi phần thưởng chỉ có năm ăn năm thua. Eros của Carson, nói theo ngôn ngữ của não, là hệ “muốn” đang chạy hết công suất.

Năm 2010, nhóm của Helen Fisher chụp não mười lăm người vừa bị người yêu bỏ, trung bình hai tháng trước đó, những người nói rằng họ dành hơn tám mươi lăm phần trăm thời gian thức để nghĩ về người kia. Khi nhìn ảnh người cũ, vùng não sáng lên là vùng mái bụng và nhân accumbens, chính những vùng hoạt động khi người nghiện thèm thuốc. Bị từ chối không làm tình yêu tắt. Fisher còn cho rằng nó có thể làm tình yêu mạnh thêm, và gọi đó là sự hấp dẫn vì bị cản trở.

Còn trước đó nữa, năm 1979, nhà tâm lý học Dorothy Tennov phỏng vấn hơn năm trăm người để mô tả trạng thái mà bà gọi là limerence, nghĩa là cơn say mê ám ảnh của giai đoạn đầu tình yêu: ý nghĩ về người kia cứ tự chen vào, khát được đáp lại, sợ bị từ chối. Bà nhận thấy limerence cần một chút hy vọng để sống, nhưng sự không chắc chắn làm nó mạnh lên, và trở ngại cũng làm nó mạnh lên, “ít nhất là đến một mức nào đó”. Khi người kia đáp lại trọn vẹn, cơn say mê ấy thường dịu đi.

Sappho đã viết tất cả những điều này bằng một chữ.

BÀI THƠ VỀ MỘT NGƯỜI ĐÃ ĐI

Tác phẩm được đọc nhiều nhất của Carson có lẽ là “The Glass Essay”, tạm dịch “Tiểu luận thủy tinh”, một bài thơ dài chừng ba mươi sáu trang. Nhân vật “tôi” thức dậy lúc bốn giờ sáng và nghĩ về Law, người đàn ông đã bỏ cô đi từ tháng Chín. Hôm sau, cô lên tàu về thăm mẹ, người sống một mình trên một vùng đồng hoang ở phương bắc. Tháng Tư rồi mà đồng hoang vẫn đóng băng. Trong túi cô là tuyển tập Emily Brontë.

Hai mẹ con ngồi gần như im lặng trong căn bếp nhỏ. Mẹ nói về thuế, về mưa, về chuột, và hỏi đào bới quá khứ thì được gì. Cha cô nằm trong một bệnh viện dành cho người bệnh mãn tính cách đó năm mươi dặm, mất trí nhớ, hơn ba năm chưa nói được một câu trọn vẹn.

Và trong những lần ngồi thiền, cô thấy những hình ảnh mà cô gọi là “Nude”, những thân người trần trụi. Thân người đầu tiên là một người đàn bà đứng một mình trên đồi, gió bấc xé từng mảng thịt. Mười hai lần sau, đến thân người thứ mười ba, không còn đau nữa. Gió đã rửa sạch, và đó không còn là thân thể của một người đàn bà, mà là thân thể của tất cả mọi người.

Đọc bài thơ ấy cạnh những tấm chụp não của Fisher là một trải nghiệm lạ. Những người bị bỏ trong phòng thí nghiệm và người đàn bà trên đồng hoang đang kể cùng một chuyện, một bên bằng máy quét, một bên bằng tiếng gió. Điều bài thơ thêm vào là lối ra: cô không có lại Law. Cô chỉ học được cách nhìn nỗi đau cho đến khi nó thôi là của riêng mình.

NHỮNG NGƯỜI VẮNG MẶT

Có lẽ không phải tình cờ mà cả đời Carson xoay quanh sự vắng mặt.

Năm 1978, người anh trai của bà, Michael, bị bắt vì ma túy, trốn đi khi đang được tại ngoại, rời Canada và gần như biến mất khỏi đời gia đình. Theo lời bà kể với nhà báo Eleanor Wachtel, hai mươi hai năm sau, năm 2000, anh gọi cho bà lần đầu tiên, một cuộc nói chuyện rất lạ và gượng gạo. Bà hẹn bay sang Copenhagen gặp anh. Một tuần trước chuyến đi, một người phụ nữ gọi đến và nói rằng anh trai bà vừa mất.

Bà làm cho anh một cuốn sổ: dán ảnh, dán thư, dán tem, viết từng mẩu ký ức, và đặt cạnh đó bản dịch từng chữ một bài thơ La Mã cổ của Catullus khóc người anh chết ở xứ xa. Năm 2010, cuốn sổ được in thành sách, tên là “Nox”, nghĩa là đêm.

Nhà tâm lý học Pauline Boss có một khái niệm cho những gì Carson viết: mất mát mơ hồ. Có hai kiểu. Kiểu thứ nhất là người vắng mặt về thân xác nhưng vẫn hiện diện trong tâm trí, như người mất tích, người đi biệt xứ, như Michael suốt hai mươi hai năm. Kiểu thứ hai là người vẫn ở đó về thân xác nhưng tâm trí đã đi xa, như người cha mất trí trong “The Glass Essay”. Boss cho rằng mất mát mơ hồ là loại mất mát gây căng thẳng nhất, vì nó không có điểm kết, không có đám tang để khóc cho xong.

Và đó cũng là tam giác của Sappho, chỉ khác là cái chen vào giữa không phải một người tình địch, mà là khoảng cách, là im lặng, là cái chết.

PHẢN BIỆN: THIẾU CÓ THẬT SỰ LÀM TÌNH YÊU MẠNH HƠN?

Đến đây, rất dễ rút ra một bài học nguy hiểm: muốn được yêu thì hãy làm cho người kia không chắc chắn, hãy tỏ ra khó với tới, hãy để cha mẹ phản đối. Khoa học không ủng hộ điều đó.

Thứ nhất, câu chuyện “càng cấm càng yêu” đã sụp đổ khi làm lại. Năm 1972, một nghiên cứu trên một trăm bốn mươi cặp đôi tìm thấy cái gọi là hiệu ứng Romeo và Juliet: cha mẹ càng can thiệp, tình yêu càng tăng. Năm 2014, nhóm của Colleen Sinclair làm lại với ba trăm chín mươi sáu người và tìm thấy điều ngược lại: khi cha mẹ và bạn bè tán thành, tình yêu và cam kết tăng; khi họ phản đối, tình yêu giảm. Nghiên cứu gốc cũng từng ghi nhận rằng can thiệp đi kèm lòng tin thấp hơn và nhiều chỉ trích hơn.

Thứ hai, điều làm người ta phải lòng thường không phải là sự thiếu, mà là được đáp lại. Arthur Aron và đồng nghiệp năm 1989 thấy một trong những tiền đề phổ biến nhất của việc phải lòng là phát hiện ra người kia thích mình. Trong một nghiên cứu hẹn hò tốc độ năm 2007 với một trăm năm mươi sáu sinh viên, người thích tràn lan ai cũng thích thì ít được đáp lại, còn người thích có chọn lọc, dành riêng cho một người, thì được đáp lại. Thứ hút người ta là cảm giác “người này chọn mình”, không phải cảm giác bị bỏ lửng.

Thứ ba, tình yêu không nhất thiết phải tắt khi khoảng cách biến mất. Năm 2009, Bianca Acevedo và Arthur Aron tổng hợp hai mươi lăm nghiên cứu với hơn sáu nghìn người và thấy tình yêu lãng mạn không kèm ám ảnh gắn với sự hài lòng cả trong quan hệ ngắn lẫn dài, còn đam mê kèm ám ảnh chỉ gắn với hài lòng trong ngắn hạn. Năm 2012, họ chụp não những người đã cưới trung bình hai mươi mốt năm mà vẫn nói mình yêu say đắm, và thấy vùng mái bụng vẫn sáng như ở người mới yêu, cộng thêm những vùng của sự gắn bó. Một khảo sát ngẫu nhiên cùng năm ấy cho thấy khoảng bốn mươi phần trăm người Mỹ đã cưới trên mười năm nói rằng mình vẫn yêu rất mãnh liệt. Cái muốn vẫn có thể sống mà không cần trở ngại.

Thứ tư, chính nghiên cứu của Whitchurch có giới hạn: mẫu nhỏ, toàn nữ, và là một tình huống giả định trên mạng chứ không phải một mối quan hệ thật.

Và cuối cùng, công bằng với Carson: bà chưa bao giờ nói thiếu là tốt. Bà chỉ nói thiếu là cấu trúc của khao khát. Ngọt và đắng đến cùng một lúc, trong cùng một chữ. Người viết “Eros ngọt đắng” cũng là người viết “Nox”, và không ai đọc “Nox” mà nghĩ rằng sự vắng mặt là một món quà.

PHÂN BIỆT CÁI MUỐN VÀ NGƯỜI MÌNH MUỐN

1. Thích và muốn là hai hệ khác nhau. Khi nhớ một người đến mất ngủ, hãy tự hỏi: mình đang thích con người ấy, hay đang muốn cái khoảng trống mà họ để lại?

Sự không chắc chắn là cái loa, không phải bằng chứng. Một người lúc nóng lúc lạnh khiến bạn nghĩ về họ nhiều hơn, và nghĩ nhiều hơn khiến bạn tưởng mình yêu nhiều hơn. Đó là cơ chế của não, không phải tín hiệu của định mệnh.

2. Sau chia tay, cơn thèm là thật, và nó dùng chung những vùng não với cơn thèm của người nghiện. Như mọi cơn thèm, nó dịu đi khi bớt nguồn kích thích: bớt vào trang cá nhân của người cũ, bớt đọc lại tin nhắn cũ.

3. Đừng chơi trò khó với tới. Thứ được đáp lại bền nhất là sự quan tâm có chọn lọc, rõ ràng và dành riêng, không phải sự lửng lơ.

4. Trong một mối quan hệ lâu năm, giữ cho tam giác một đỉnh thứ ba lành mạnh: một khoảng riêng, một điều mới cả hai cùng tò mò, một chút bí ẩn còn lại ở người kia. Khoảng cách nuôi khao khát không cần phải là nỗi bất an.

5. Với những người đã vắng mặt mãi mãi, hoặc vắng mặt theo kiểu mơ hồ, không cần phải “buông bỏ” cho xong. Các nhà nghiên cứu về tang thương ngày nay cho rằng giữ một sợi dây với người đã khuất có thể là nguồn lực, không phải là sự chối bỏ. Làm một cuốn sổ cho họ, như Carson đã làm, cũng là một cách.

Người đàn bà cả đời viết về khoảng cách nhận tin vui lớn nhất đời trong lúc đang nghe gió.

Gió là thứ không ai nắm được trong tay. Có lẽ vì thế mà ta cứ đứng nghe.

ĐỌC THÊM

Anne Carson, “The Glass Essay”, đọc miễn phí bản tiếng Anh trên trang Poetry Foundation.
Anne Carson, Eros the Bittersweet (1986); hiện chưa có bản dịch tiếng Việt.
Pauline Boss, Ambiguous Loss: Learning to Live with Unresolved Grief (1999).

NGUỒN

Reuters qua KSL và Al-Monitor; AP qua Boston Globe; Al Jazeera; Euronews; Literary Hub; TheJournal.ie; The National (cùng ngày 8/10/2026); Smithsonian Magazine.
Báo Việt Nam ngày 8/10/2026: Tuổi Trẻ, Znews, VOV, VietnamPlus, SGGP, Dân Trí.
Carson (1986), Eros the Bittersweet; Carson (1995), “The Glass Essay”; Carson (2010), Nox; Eleanor Wachtel phỏng vấn Carson, CBC (2011).
Whitchurch, Wilson & Gilbert (2011), Psychological Science 22(2).
Berridge & Robinson (1998), Brain Research Reviews 28; Fiorillo, Tobler & Schultz (2003), Science 299.
Fisher, Brown, Aron, Strong & Mashek (2010), Journal of Neurophysiology 104.
Tennov (1979), Love and Limerence.
Boss (1999), Ambiguous Loss; Klass, Silverman & Nickman (1996), Continuing Bonds.
Driscoll, Davis & Lipetz (1972), JPSP 24; Sinclair, Hood & Wright (2014), Social Psychology 45(3).
Aron, Dutton, Aron & Iverson (1989); Eastwick, Finkel, Mochon & Ariely (2007), Psychological Science 18.
Acevedo & Aron (2009), Review of General Psychology 13(1); Acevedo và cộng sự (2012); O’Leary và cộng sự (2012).

Address

Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tạo ra để đi xem phim posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category