15/12/2025
LÀM TIẾP tuệ quán 2384
____________
V. Uppalavannà (S.i.131)
1) Nhân duyên Sàvatthi.
Rồi Tỷ-kheo-ni Uppalavannà vào buổi sáng đắp y... và đứng dưới gốc cây tala có trổ hoa.
2) Ác ma muốn làm cho Tỷ-kheo-ni Uppalavannà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỷ-kheo-ni Uppalavannà.
3) Sau khi đến, Ác ma nói lên bài kệ này với Tỷ-kheo-ni Uppalavannà:
Này nàng Tỷ-kheo-ni,
Dưới gốc cây tala,
Ðang nở nụ trăm hoa,
Nàng đến đứng một mình,
Nhan sắc Nàng tuyệt đẹp,
Không ai dám sánh bằng!
Tại đây Nàng đã đến,
Trong tư thế như vậy,
Nàng ngu dại kia ơi,
Không sợ cám dỗ sao?
4) Tỷ-kheo-ni Uppalavannà suy nghĩ: "Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay là không phải người?"
5) Tỷ-kheo-ni Uppalavannà suy nghĩ: "Ðây là Ác ma... đã nói lên bài kệ đó."
6) Tỷ-kheo-ni Uppalavannà biết được : "Ðây là Ác ma", liền trả lời với bài kệ:
Trăm ngàn người cám dỗ,
Có đến đây như Ông,
Mảy lông ta không động,
Ta không gì sợ hãi.
Ác ma, ta không sợ,
Ta đứng đây một mình,
Ta có thể biến mất,
Hay vào bụng các Ông.
Ta đứng giữa hàng mi,
Ông không thấy ta được.
Với tâm khéo khiếp phục,
Thần túc khéo tu trì,
Ta thoát mọi trói buộc,
Ta đâu có sợ Ông?
Này Hiền giả Ác ma!
7) Ác ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Uppalavannà đã biết ta", buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
____________
KINH TIỂU BỘ
HẠNH TẠNG
SỰ TOÀN HẢO VỀ GIỚI
Hạnh của Vị Nuôi Dưỡng Mẹ
148. Vào lúc ta là con voi nuôi dưỡng voi mẹ ở trong rừng rậm. Lúc bấy giờ, ở trên trái đất không có người tương đương với ta về giới đức.
149. Có người đi rừng, sau khi nhìn thấy ta ở khu rừng rậm, đã thông báo với đức vua rằng: “Tâu đại vương, có con voi được xứng đáng với ngài đang sống ở trong rừng.
150. Không cần phải gây thương tích cho nó, cũng không cần đến cọc trói và hầm hố. Khi được nắm ở vòi của chính nó, tự thân nó sẽ đi đến chỗ này.”
151. Nghe được lời nói ấy của ông ta, ngay cả đức vua cũng có tâm trí hớn hở và đã phái đi người thuần hóa voi, là bậc thầy kinh nghiệm, đã được huấn luyện rành rẽ.
152. Sau khi đi đến, người thuần hóa voi ấy đã nhìn thấy (ta), ở trong hồ sen, đang nhổ lên rễ và ngó sen nhằm mục đích nuôi dưỡng mẹ.
153. Biết được giới đức của ta, người này đã xác định các đặc điểm và đã nói rằng: “Này con trai, hãy đi đến,” rồi đã nắm chặt cái vòi của ta.
154. Khi ấy, sức mạnh tự nhiên đồng hành với cơ thể của ta là tương đương với sức mạnh của một ngàn con voi ngày hôm nay.
155. Nếu ta nổi cơn giận dữ với những người đã đi đến để bắt ta, ta có thừa khả năng đối với bọn họ, thậm chí luôn cả vương quốc của những người ấy nữa.
156. Hơn nữa, vì gìn giữ giới để làm viên mãn sự toàn hảo về giới, ta không làm thay đổi tâm ý trong khi họ xô đẩy ta vào cây cọc trói.
157. Nếu bọn họ có làm tổn thương ta bằng những cái rìu và những cây thương, ta cũng chẳng nổi cơn giận dữ đối với bọn họ vì ta có nỗi lo sợ bị đứt giới.
Hạnh của Vị Nuôi Dưỡng Mẹ là phần thứ nhất.
2. Hạnh của (Đức Bồ-tát) Bhūridatta[21]�
158. Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là Bhūridatta có đại thần lực. Ta đã đi đến cõi trời cùng với vị Đại Vương Virūpakkha.[22]
159. Sau khi nhìn thấy chư thiên ở tại nơi ấy được thọ hưởng an lạc trọn vẹn, ta đã thọ trì giới cấm nhằm mục đích đi đến cõi trời ấy.[23]
160. Sau khi làm phận sự đối với cơ thể[24] và thọ dụng chỉ đủ để nuôi sống, ta đã quyết định về bốn chi phần (của cơ thể)[25] rồi đã nằm ở trên đỉnh của gò mối.
161. Đối với người nào có việc cần dùng đến da ngoài, da trong, thịt, các sợi gân, hoặc các khúc xương (ở cơ thể ta), chính vì là vật đã được bố thí nên hãy để người ấy mang đi.
162. Khi ta đang nằm, kẻ vô ơn Ālambana[26] đã nắm lấy ta ném vào trong giỏ rồi đã bắt ta làm trò vui ở nơi này nơi khác.
163. Ngay cả trong khi ông ấy ném (ta) vào giỏ, thậm chí trong khi ông ấy dùng bàn tay đè bẹp (ta) xuống, ta không giận dữ đối với Ālambana vì ta có nỗi lo sợ bị đứt giới.
164. Sự xả bỏ sanh mạng bản thân của ta là nhẹ hơn cọng cỏ. Sự phá giới đối với ta tương tợ như việc đảo ngược trái đất.
165. Liên tục một trăm kiếp sống, ta có thể xả bỏ mạng sống của ta chứ không thể nào làm đứt giới cho dù là vì nguyên nhân (làm vua cai trị) bốn châu lục.
166. Hơn nữa, vì gìn giữ giới để làm viên mãn sự toàn hảo về giới, ta không làm thay đổi tâm ý trong khi (Ālambana) ném (ta) vào trong giỏ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Bhūridatta là phần thứ nhì.
___
___________
GIÀU CÓ TRONG MẮT BẬC HIỀN THÁNH 🛑
THẤT THÁNH SẢN
Này các Tỳ-kheo, có bảy loại tài sản không ai có thể cướp đoạt, không bị nước cuốn, lửa cháy, không bị vua quan tịch thu, cũng không bị trộm cướp lấy mất. Thế nào là bảy?
🌲MỘT LÀ TÍN TÀI.
Vị Thánh đệ tử có niềm tin kiên cố nơi sự giác ngộ của Như Lai:
“Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh hạnh, khéo đi, khéo đến, bậc thấu suốt thế gian, bậc Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, thầy của chư thiên và loài người, bậc Phật, bậc Thế Tôn”.
Niềm tin ấy là tài sản bất hoại, mở đường cho mọi công đức.
🌲HAI LÀ GIỚI TÀI.
Vị Thánh đệ tử giữ gìn giới hạnh trong sạch: từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ rượu men, rượu nấu và các chất gây say. Giới hạnh ấy chính là tài sản bảo hộ đời sống thanh tịnh.
🌲BA LÀ TÀM TÀI.
Vị Thánh đệ tử có tâm biết hổ thẹn với tội lỗi, hổ thẹn khi thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Biết hổ thẹn với các pháp bất thiện đã làm. Đây là tài sản của sự tàm quý.
🌲BỐN LÀ QUÝ TÀI.
Vị Thánh đệ tử có tâm sợ hãi đối với tội lỗi, sợ hãi tạo tác ác hạnh, biết sợ quả báo của bất thiện pháp. Đây là tài sản của sự sợ hãi tội lỗi.
🌲NĂM LÀ VĂN TÀI.
Vị Thánh đệ tử nghe nhiều, học nhiều, gìn giữ và quán chiếu những gì đã nghe. Các pháp ấy sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý trọn vẹn, đưa đến đời sống Phạm hạnh thanh tịnh. Vị ấy ghi nhớ, đọc tụng, tư duy, thấm nhập nhờ chánh kiến. Đây là tài sản của sự nghe học chân chánh.
🌲SÁU LÀ THÍ TÀI.
Vị Thánh đệ tử biết mở lòng bố thí, từ bỏ xan tham, sống rộng lượng, với bàn tay rộng mở, vui thích chia sẻ, sẵn sàng cho đi khi có người cần. Đây là tài sản của sự xả thí.
🌲BẢY LÀ TUỆ TÀI.
Vị Thánh đệ tử thành tựu trí tuệ, quán sát rõ sự sinh – diệt của các pháp, thể nhập chân lý, thấy rõ con đường đoạn tận khổ đau, chấm dứt luân hồi. Đây là tài sản tối thượng, soi sáng và vượt thắng tất cả.
Này các Tỳ-kheo, bảy tài sản ấy mới là kho báu thật sự, không bao giờ mất đi.
____________
VÔ THỈ KINH
Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân hồi này. Ðiểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.
Có thể có một thời, này các Tỷ kheo, biển lớn đi đến khô cạn, hoàn toàn đi đến khô kiệt, không có hiện hữu. Nhưng này các Tỷ kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.
Có thể có một thời, này các Tỷ-kheo, Sineru(Tu-di), Vua các núi, đi đến băng hoại, hoại diệt, không có hiện hữu. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi!
Có thể có một thời, này các Tỷ-kheo, đại địa đi đến băng hoại, hoại diệt, không có hiện hữu. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển luân hồi!
_______
Đoạn trích từ kinh "Vô Thỉ" giải thích về luân hồi là một chuỗi sinh tử không có điểm bắt đầu rõ ràng, do bị vô minh và khát ái trói buộc.
Đức Phật nhấn mạnh sự vô tận của luân hồi bằng cách so sánh với những hiện tượng vũ trụ có thể kết thúc, như biển cạn, núi Tu-di hoại diệt hay đại địa băng hoại.
Tuy nhiên, ngài không tuyên bố rằng sự đau khổ do luân hồi sẽ chấm dứt cho những chúng sinh nào còn bị vô minh và khát ái trói buộc.
Định nghĩa "vô thủy": "Vô thủy" có nghĩa là sự luân hồi này không có điểm bắt đầu rõ ràng, vì chúng sinh bị vô minh che đậy và khát ái trói buộc nên cứ mãi lưu chuyển trong vòng sinh tử.
So sánh với sự tận diệt của vũ trụ:
Biển cạn: Có thể một lúc nào đó, biển lớn sẽ khô cạn hoàn toàn.
Núi Tu-di: Vua các núi cũng có thể bị băng hoại, hoại diệt.
Đại địa: Ngay cả đại địa cũng có thể bị băng hoại, hoại diệt.
Điểm cốt lõi: Ngài Đức Phật khẳng định rằng, cho dù những hiện tượng vũ trụ có thể kết thúc, thì sự chấm dứt khổ đau đối với những chúng sinh vẫn còn bị vô minh và khát ái trói buộc vẫn chưa thể xảy ra.
____________
TẠI SAO TÔI ĐI TU: ( Bậc thánh A-la-hán Ratthapala)
💦
Tôi đã thấy biết bao người giàu có
Chưa bao giờ từ bỏ tánh tham lam
Vẫn mãi mê ham của cải bạc vàng
Vẫn khao khát chạy dài theo khoái lạc
Tôi đã thấy biết bao là vua chúa
Chưa bao giờ an phận với giang san
Dẫu biên cương giáp bốn biển ngút ngàn
Vẫn muốn nữa, muốn biên thuỳ rộng mãi
Người thế gian, từ bần dân, vua chúa
Trước tử thần tâm vẫn còn tham
Tiếc công danh, tiếc sự nghiệp chưa thành
Nhưng phải bỏ, tay buông xuôi, nhắm mắt
Quanh người chết bao người than, kẻ khóc
"Hỡi người thân! Sao vội bỏ ra đi!"
Trong áo quan người nằm đó im lìm
Lửa thiêu đốt, xác thân thành tro bụi
Mang theo gì, trên mình manh vải liệm!
Còn lại chi, bia mộ khắc đôi hàng!
Dẫu muốn về trở lại cõi trần gian
Nhưng phải chịu tái sanh theo nghiệp định
Người còn sống đang tranh giành thừa kế
Kẻ chết nầy chỉ có nghiệp mang theo
Khi ra đi tay trắng chẳng mang gì
Bỏ con cái, bạn đời cùng của cải
Bách niên đại thọ bạc tiền nào mua nổi
Biển ngọc rừng vàng sao tránh khỏi già nua
Lời thánh nhân nhắc nhở lẽ Vô thường
Ngắn ngủi lắm! Kiếp người, nên ghi nhớ!
🌙
Bậc có trí quán tưởng luôn sự chết
Phút lâm chung tâm bình thản an nhiên
Kẻ phàm phu không quán tưởng thường xuyên
Nên phút cuối lâm chung đầy sợ hãi
Trí tuệ quý hơn tiền tài của cải
Trí tuệ giúp người đạt Đạo Quả Vô Sanh
Kẻ si mê biết bao kiếp đạt thành
Trôi nổi mãi trong luân hồi vô tận
Từ bào thai người sanh về cõi khác
Tiếp tục hành trình đi mãi không thôi
Còn vô minh nghiệp quả trói thân mình
Hết Sanh Tử Tái Sanh vòng luẩn quẩn
Như kẻ cướp bị luật đời phân xử
Nghiệp chúng sanh, luật nhân quả nghiêm minh
Để đời sau, nghiệp cũ bước theo mình
Trổ quả dữ, khổ người gây ác nghiệp
Dục lạc ngũ trần, vị ngọt ngon thơm ngát
Làm động lòng, làm sao xuyến tâm can
Thấy hiểm nguy trong vị ngọt ẩn tàng
Làm ẩn sĩ tôi sống đời thanh thản
Kiếp người mong manh như nhánh cây đầy trái
Gió rung cành, trái xanh, chín, rụng rơi!
Bởi hiểu thế, tôi đắp y cạo tóc
Làm Tỳ khưu vui đạo sống thanh bần.
____________
Saṅghānussati - Niệm ân đức của bậc Thánh Tăng, có khả năng chế ngự các triền cái và đem lại sự hoan hỷ cho tâm.
Một vị Đại Trưởng Lão xứng đáng để ta tưởng niệm như thế chính là Ngài Sāriputta.
Ai cũng biết rằng Ngài Sāriputta là vị đệ tử đệ nhất về trí tuệ của Đức Phật - và vì thế, nhiều người thường hình dung Ngài như một bậc uyên thâm trầm mặc.
Thế nhưng trong các bộ chú giải lại cho thấy một khía cạnh khác nơi Ngài - một tâm hồn đầy lòng từ mẫn, khiêm cung và tận tụy với đại chúng.
Ngài thường thức dậy sớm, trong khi chư Tăng khác đi khất thực thì Ngài ở lại quét dọn, nhặt rác, giữ cho khu vực tinh xá được sạch sẽ gọn gàng.
Sau đó Ngài đến thăm bệnh xá, thăm hỏi các vị bệnh Tăng, an ủi khuyến tấn họ tu tập, và xem họ có cần thêm thuốc men hay không. Nếu có, Ngài sẽ tự mình đi xin thuốc từ các thí chủ đã phát nguyện cúng dường y dược.
Trong những chuyến du hành xa, Ngài Sāriputta hiếm khi đi đầu đoàn - Ngài thường đi ở phía sau, để tiện chăm sóc cho các vị Tăng già yếu hay đau ốm.
Nhiều lần, chính Ngài là người tự tay bôi thuốc lên các vết thương đang rỉ máu của các vị bệnh Tăng.
Ngài nổi tiếng với tấm lòng từ bi và những bài Pháp vi diệu mà Ngài thuyết cho người bệnh.
Một lần, Ngài chỉ dạy Pháp quán thọ (vedanānupassanā) cho Tỳ-kheo Samitigutta đang mắc bệnh phong. Và bài Pháp ấy sâu sắc đến mức vị Tỳ-kheo ấy chứng đắc A-la-hán ngay tại chỗ.
Một dịp khác, ông Anāthapiṇḍika đang chịu cơn đau dữ dội nơi thân - nhưng khi được nghe Ngài Sāriputta thuyết Pháp, cơn đau liền chấm dứt.
Sau cùng, khi ông Anāthapiṇḍika nằm hấp hối,
Ngài Sāriputta đã thuyết một thời Pháp sâu xa về sự xả ly,giúp ông ra đi với tâm hoàn toàn buông xả.
Sau khi qua đời, ông tái sinh lên cõi Tusita thiên,
và từ đó trở về Kỳ Viên tinh xá để đảnh lễ, bày tỏ lòng tri ân Đức Phật và Ngài Sāriputta.
Tại đó, ông đã đọc lên bài kệ:
Sāriputta quả thật viên mãn trí tuệ,
Viên mãn giới đức và an tịnh nội tâm.
Dẫu bậc đã vượt qua sinh tử,
Cũng chỉ có thể sánh bằng Ngài mà thôi.
____________
DIỆU PHÁP HỔN LOẠN DO 5 KHÔNG.
Đức Phật dạy trong Tăng Chi Bộ – Chương Năm Pháp – Phẩm Tikandaki & Phẩm Diệu Pháp.
Diệu Pháp Hỗn Loạn
"-- Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, biến mất. Thế nào là năm?
+ Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không cẩn trọng nghe pháp
+ không cẩn trọng học thuộc lòng pháp
+ không cẩn trọng thọ trì pháp
+ không cẩn trọng quan sát ý nghĩa các pháp được thọ trì
+ không cẩn trọng thực hành pháp và tùy pháp sau khi hiểu ý nghĩa và hiểu pháp.
--Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, biến mất."
____________
SỰ THẬT VỀ THẤT GIÁC CHI
Niệm, Trạch, Hỷ, Cần, Tĩnh, Định, Xả
1. CHÁNH NIỆM GIÁC CHI
Là kiểm soát được mọi hoạt động của thân tâm
Đây là con đường dẫn đến chứng Thánh
Còn không đủ duyên chứng Thánh thì hiện tại được an lạc (lạc trú hiện tại)
Tại sao nói Chánh Niệm dẫn đến lạc trú hiện tại?
Ví dụ: Khi một người người khác đến chửi mình thì người không tu sẽ khổ 10 còn người có Chánh Niệm chỉ khổ 1 hoặc không khổ.
Tâm Chánh Niệm cho họ thấy rằng tâm họ đang khó chịu, chính tâm khó chịu này mình đang là mình gieo một cái nhân xấu trong tâm rồi. Nhưng cái tâm mà thấy mình đang gieo tâm xấu đó chính là tâm thiện là tâm Chánh Niệm
Hoặc Tâm Chánh Niệm nhắc họ rằng mình đang nhận quả khổ và người chửi đang gieo quả khổ. Chỉ bấy nhiêu đó thôi và dừng lại không suy nghĩ thêm nhiều nữa.
Một vị thánh đại danh đến một vị thánh vô danh đều triệt để sống thường trực 100%
trong Chánh Niệm. Chỉ bấy nhiêu đó thôi.
Chứ thông thường người ta sẽ nghĩ rất cao siêu thần thông nào đó.
Nhưng các vị thánh thường trực luôn sống trong Chánh Niệm
Sống trong Chánh Niệm là sống trong đơn giản nhất, suy nghĩ đơn giản và hành động đơn giản
Ví dụ khi người ta chửi mình thì như trên mình chỉ biết là mình đang nhận quả khổ, người chửi đang gieo nhân khổ chỉ thế thôi
Không nên phân tích, chứng minh, khiềm khích, ghen tỵ, đố kị, hơn thua... Để gieo nhân khổ
Chánh Niệm là thay thế thất niệm bằng cái niệm, thay thế cái biết bằng cái không biết.
Không có cái đoạn trừ, cắt đứt phiền não ở đây .
Nghe chỉ biết nghe chỉ vậy thôi. Còn phàm thì tức, bực bội thì biết tức, bực bội chỉ bấy nhiêu đó thôi. Không suy nghĩ hơn thua về điều này nữa
Trong thường ngày tâm biết rõ
Thích, ghét, buồn, vui, thiện, ác nhưng tâm không suy tư, phân tích, chứng minh, hơn thua trong đó. Thấy rồi lập tức quay về cuộc sống hằng ngày liền
Trong khi các vị niệm phật, cầu hồng danh, trì chú... Để cầu giác ngộ mà trong khi bản thân là cái gốc còn quá nhiều sân si, sống thường trức trong thất niệm, không tỉnh giác thì thử hỏi cầu giác ngộ là cầu cái gì?
Cầu kiểu này giống như lấy sỏi mà nấu thành cơm, Dã Tràng mà lấp biển đông
Điều kiện để đời sống chánh niệm phát triển
-Phải ngăn nắp chỗ ăn, chỗ ở
-Sống chung với người có chánh niệm
-Rời xa với những người không có chánh niệm
Chánh Niệm đây là cái nền cho tất cả thiện pháp trong Thân, Thọ, Tâm, Pháp
QUÁN THÂN NIỆM XỨ
Ghi nhận tất cả mọi hoạt động sinh học của Thân gọi là quán thân
Cao hơn nữa là
Ghi nhận sự hoạt động và bản chất của thân của tứ đại: Đất, nước, lửa, gió.
Chạm vào một thứ gì đó thấy nó cứng, mềm, nặng, nhẹ, mịn, nhám... biết nó là đất
Chạm vào một thứ gì đó thấy nó tang chảy, ngưng tụ, kết dính... biết nó là nước
Chạm vào một thứ gì đó thấy nó nóng, lạnh... biết nó là lửa
Chạm vào một thứ gì đó thấy nó di động, xê dịch, trương phòng, áp suất... biết nó là gió
Tâm phải buộc phải có cảnh để nó ghi nhận
Ghi nhận cái thân này từ đỉnh đầu xuống chân đều là thứ bất tịnh
QUÁN THỌ NIỆM XỨ
Ghi nhận cảm giác của thân, tâm nói chung hay gọi là cảm xúc, cảm giác như: Khó chịu, dễ chịu,
Thích thì mình không đắm đuối vào đó, không thích mình không ghét bỏ hay sợ hãi.
Có cảm giác thích gọi là hạnh phúc, cảm giác bất mãn không thích gọi là đau khổ
Ví dụ: Đau lưng, nhứt mỏi, bệnh hoạn, mổ xe, trời nóng lạnh, tang tóc...Cho ra những tâm trạng lo lắng, sợ hãi...gọi là đau khổ
Ví dụ: Sắm được thứ được như mong muốn như: cái bóp, đồng hồ, mắc kính
cái áo, cái quần, chiếc xe, cái nhà, làm ăn, nghề nghiệp như mong muốn...Cho ra những tâm trạng thích thú gọi hạnh phúc...
Khi mình THỌ QUÁN thì mình sẽ nói rằng OH, té ra từ khi mình sinh ra đến nay mình chỉ chạy theo các cảm xúc thôi à
Từ vô lượng kiếp đến nay thì mình luôn tìm cái cảm giác dễ chịu, ghét bỏ cảm giác khó chịu nên chuyện ác nào mình cũng làm được hết.
Giờ Chánh Niệm thì cái thích, ghét, buồn, vui đều do các duyên mà có
Do nghiệp tham ái thì mình thích gì, ghét gì mà mình quay trở lại, tái sinh vào cảnh giới tương ưng và có những cảm xúc tương ứng với cảnh giới đó.
Ví dụ có những thứ môi trường tanh hôi như: ruồi, dòi, bọ cảm nó thích nhưng con người thì không.
Cũng có những thứ còn người thích nhưng dòi bọ, ruồi không thích như dầu thơm...
QUÁN TÂM NIỆM XỨ
Tỉnh thức ghi nhận trong các tâm trạng thiện ác. Biết đây là buồn, vui, thích, ghét, ganh tỵ, đố kị, bủn xỉn, hơn thua, khiềm khích, từ tâm tinh tấn, trí tuệ.
QUÁN PHÁP NIỆM XỨ
Tổng hợp 3 cái QUÁN kia lại ghi nhận nó một cách chuyên nghiệp
Ví dụ
Anh tu bên thân quán thì anh ta biết đang nhìn, đang nghe, đang đi
Nhưng bên anh pháp quán thì anh ta ghi nhận đây là nhãn xứ, đây là nhĩ xứ,...tỷ...thiệt..., thân..., ý........
Anh bên thọ quán thì anh ta ghi nhận đây là dễ chịu, đây là khó chịu, đây là hỷ lạc, đây là khổ ưu
Anh bên pháp quán thì anh ta ghi nhận Đây là hỷ giác chi
Đây là tâm thiện thọ hỷ
Đây là tâm tham thọ hỷ
Đây là thân thức thọ khổ
Đây là tâm sân thọ ưu
Nói chung nhìn thân, thọ, tâm qua các thể tài
Ví dụ Nhìn thân, thọ, tâm qua các thể tài như 5 uẩn, 12 xứ, 7 giác chi, 5 triền cái, 4 đế... Một cách chuyên nghiệp hơn
Tùy căn cơ trình độ mà mình tu
Ví dụ anh mà tu thân, tu thọ, tu tâm riêng thì anh ta chỉ nhắm đến 1/3 trong pháp quán thân, thọ, tâm thôi. Riêng rẽ từng cái tùy theo sở trường của anh ta
Nhưng anh bên tu quán niệm xứ thì anh ta tu hết buộc trí phải nhanh và phải có nền tảng giáo lý.
2. TRẠCH PHÁP GIÁC CHI
Phải biết rõ, thấy rõ những gì cần thêm, bớt, bỏ, những gì là ác, là thiện...
Phải chánh niệm và thiền định thì mới thấy ra những gì mà anh đã học, những gì mà anh đã tư duy trong cái học.
Trí gồm có 3 đó là văn, tư, tu
Tư duy ở mức độ sâu hơn gọi là trí tu.
Chỗ này gọi là trạch pháp giác chi.
Tùy nhiên tùy người tùy căn cơ mà độ cao, sâu, rộng của mỗi người khác nhau
Ví dụ người chứng thiền sẽ có cái nhìn khác người không chứng thiền
Người chứng thiền chỉ khác với người chứng thiền tuệ
Ví dụ hai người cầm 2 cây đèn pin sẽ thấy cảnh vật chung quanh khác nhau
Người thứ nhất thì nghèo, anh ta rọi xung quanh nhà anh ta thì anh ta thấy cái nồi bị mốp, bị trầy, anh ta thấy cái quần sà lỏn đứt dây thun
Người thứ hai thì giàu, anh ta rọi anh ta thấy đôi giày Gucci, đôi giày Adidas, đồng hồ Rolex, vòng vàng, nhẫn...
Thế giới này không có tuệ nó chỉ là cái bóng đêm
Cho nên sống chánh niệm là rất cần thiết. Nhưng khi chánh niệm không thôi thì vẫn chưa đủ. Vì chánh niệm là năng lực quán sát, của ta thôi.
Quán sát nhưng thấy gì và biết gì là điều quan trọng.
Biết cái gì đang diễn
Biết cái gì nó vừa xuất hiện
Cái gì nên
Cái gì không nên
Buộc nó phải là trí
Ví như ta đi trong bóng đêm mà không đụng và va vào đồ đạc, chướng ngại vật thôi. Phải cần có ánh sáng thì ta mới biết rõ ràng cái này là cái gì, cái kia là cái gì.
Nặng lực của trí tuệ cũng thế. Nó được ví như là ánh sáng rọi vào bóng đêm, làm cho bóng đêm mất đi. Như thế thứ ánh sáng này, thứ trí tuệ này gọi là trạch pháp.
Tu mà không có trí là thừa
Kể cả đời sống mà không có trí là thua.
3. HỶ GIÁC CHI
Đi chùi cầu, rửa chén, hốt rác mà không vui vẻ thì cũng khó làm rồi
Sống một mình mà có niềm vui mới sống được. Thấy đông người là ớn lắm
Những người không từ tập thì thấy sống một mình là thấy ớn lạnh rồi, buồn bả rồi và kèm theo một động kinh sách nữa thì ngán ngẫm chỉ muốn bỉ chạy thôi
Trong khi đó, người có tu tập thì rất vui vẻ, an lạc khi sống một mình
Kèm theo họ được nghiên cứu kinh sách thì họ xem như đây là phước báu trí tuệ đang đến với họ và niềm an lạc nâng lên gấp bội
Chí có người hiếu học, chỉ có học giả, chỉ có người học tu mới hiểu được cái đó. Đó là chất liệu là nhựa sống để cho người ta tiếp tục đi tới
Hờ hững lảnh đạm, bình thản là một trình độ khác của người tu
Không có cách nào mình tìm niềm vui trong chuyện tu học là thua sạch
Nào là nói chánh niệm, nói thiền định, nói trí tuệ, nói tình tấn, nói chánh tín... Mà không có niềm vui trong khi tu là thua sạch
Người sinh ra đầy đủ căn là đại phước, được học hỏi, hiểu và thực hành chánh pháp là một điều đại đại phước. Khi nghĩ đến điều này thì hỷ giác chi có mặt.
Do ta ích học giáo lý, ích suy tư nên quá nghèo nàn về các đề này nên hỷ giác chi sẽ không có mặt.
Ví như trên đường mình đi mua sắm về mình nhìn lại đôi giày Adidas, nhìn lại đồng hồ Rolex là mình vui vẻ.
Khi mình ghiền trồng hoa thì khi nhìn ra ngoài vườn thì mình thấy vui rồi.
Cũng như thế nếu không có học giáo lý, phát pháp trong người quá ích, trí văn không có thì lấy cái để tư duy, để vui vẻ an lạc đây, chứ đừng nói chi là trí tu
Tại sao mình gặp phật pháp mà mình không vui? Tại vì mình không có phật pháp trong tâm.
4. CẦN GIÁC CHI
Anh không có Niệm, không có Trí, không có Niềm Vui thì anh lấy chất liệu gì để mà anh siêng
Anh nói với tôi anh có đủ thứ hết nào là niệm gc, trí tuệ, niềm vui nhưng anh không tính tấn thì anh không đi được xa.
Học, tu phật không siêng thì các giác chi niệm, trạch, hỷ có vấn đề
Phải học, phải tu các giác chi mới làm các công đức được.
Được làm người đã khó
Được học phật pháp càng khó hơn
Nếu được làm người, được gặp phật pháp rồi nhưng trục trặc về 5 thứ này thì cũng là một trở ngại:
A. Đầu óc
B. sức khoẻ
C. Điều kiện sống
D. Tình trạng tâm lý .
Có thể đầu óc kém mình mẫn, có thể sức khoẻ kém quá lắm bệnh tật, có thể nghèo quá, lo lắng quá, stress quá...
E. Không gặp được minh sư, thiện hữu.
Cần gặp người có chánh niệm, có thiền định, có trí tuệ
Câu ca dao nói rằng: Gần bùng mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Câu này đúng nhưng mấy ai làm được.
Không nên ở gần những người có hai thái cực này:
Một là người lúc nào cũng âu sầu, buồn, giận, sợ, lo...
Hai là lạc quan, yêu đời...
Xét về tục đế thì là chuyện bình thường. Nhưng xét về phật pháp cả 2 đều là bất thiện cả. Một bên tâm đã là bất thiện, bất an thấy rõ. Một bên là thiên hướng về hưởng duc lạc. Nên tránh hai thái cực này.
Nên gặp gỡ và học hỏi những người có nội hàm, có nội dung, có chánh niệm, có thiền định, có trí tuệ. Đặc biệt là có niềm tin về họ.
Gặp gỡ những người này nó sẽ rất là lợi lạc còn hơn đi chùa, đi miễu mà không được một chút giáo pháp nào cả.
5. TĨNH GIÁC CHI
Đối với sinh học của một con người thì nó có nhiều giai đoạn. Các giai đoạn cuối cùng là những giải đoạn già nua, già cỗi bên kia sườn núi rồi
Ngược lại đối với tâm lý và tâm nói riêng thì nếu người biết tu thì giải đoạn đầu của tuổi trẻ luôn sống bồng bột, thất niệm, vô minh, dễ duôi...
Nhưng khi có tuổi rồi thì tu rất miên mật, có chánh niệm, có trí tuệ, có hỷ lạc, có tính tấn...từ ác nó quá thiện đó là một bước tiến, từ cái hẹp qua cái rộng, từ thấp lên cao, nông qua sâu, từ trật vượt qua tinh tế, tử tế...
Nghĩa là bên cạnh đời sống vật chất thì còn có đời sống tâm linh. Từ thô mà qua tế.
Ví dụ khi còn là em bé thì hãy khóc. Nhưng mẹ dỗ ẳm là nín ngay. Lớn lên xíu độ 5-7 tuổi khi mẹ đi chợ về mưa cho bánh là mừng lắm. Lớn lên vào tuổi cập kê thì chỉ cần một ánh mắt thôi thì mừng cả tháng trời luôn.
Thế nhưng những niềm vui đó nhỏ bé quá. Niềm vui phụ thuộc trong năm dục, trong nam nữ, trong hoàn cảnh xã hội.
Nhưng một ngày nếu anh yêu thơ ca, hội hoạ hay triết học, tôn giáo thì cái levo niềm vui đó được nâng lên một bậc. Nó đã thiên hẳn về tinh thần rồi.
Nếu anh là phật tử thì anh vui sẽ có một ngày anh sẽ sống và vui trong chánh niệm vì đây là tâm của các bậc thánh nhân.
Sau đó anh sẽ biết thế nào là đời sống vĩnh cữu
Sẽ biết cuộc sống chỉ là các mảnh nhân duyên mà tạo thành
Cuộc sống chỉ là gam màu của thích, ghét, thiện, ác, buồn, vui mà thôi
Tĩnh Giác Chi
Thanh lọc, sàn lọc những cái xô động, thô tháo từ xưa đến giờ
Xô động, thô tháo đó là cái gì?
Đó là những niềm vui thô, những niềm vui rẻ tiền. Không sánh được niềm vui vì tế từ chánh niệm, thiền định, trí tuệ
Tỉnh Giác Chi
Làm lắng động toàn bộ đời sống, tâm sinh lý của mỗi người chỉ có hành giả mới hiểu. Chứ còn chỉ học giáo lý, trí văn, trí tư không thì chưa đủ. Phải là hành giả hành trì mới có được sự tỉnh lặng này.
Khi chánh niệm, thiền định, trí tuệ thì bất thiện nó lắng xuống, huyết áp, mạch máu, hơi thở sẽ đều hơn, sâu hơn, nhẹ nhàng hơn
Nếu chánh niệm, thiền định, trí tuệ thường xuyên lâu dài thì sự nông nổi bòng bột không có cơ hội trổi dậy
Ví như tiếng chuông ngân sắp kết thúc thì trình độ nghề phải thấu đạt lắm hiểu được, không phải lắng nghe bình thường mà là lắng lòng nghe
Khi chánh niệm, thiền định, trí tuệ đạt đến trình độ nhất định thì sẽ có sự sâu lắng, toàn diện, toàn tập.
Xưa chưa tu tập thì mình có tâm
Tham vô trợ
Sân vô trợ
Giờ từ tập rồi thì mình có tâm
Tham hữu trợ
Sân hữu trợ
Chưa chánh niệm, thiền định, trí tuệ thì làm thiện phải ra mặt
Còn tu rồi thì làm thiện là chuyện phải làm, không khoe khoan, không cần ai biết, giữ khẽ
Nghĩ về cái ác là chuyện nên tinh tấn rời bỏ
Nghĩ về cái thiện chỉ là chuyện nên làm
Khi chánh niệm, thiền định, trí tuệ thì từ hơi thở, mạch máu, đến tâm lý đều nhẹ nhàng, điềm tỉnh không còn tình trạng hỗn hễn, lo lắng, bồn chồn, lóc chóc...
Khi chưa chánh niệm, thiền định, trí tuệ thì việt gì cũng làm còn chánh niệm, thiền định, trí tuệ rôi thì làm những việc cần làm thôi và thời gian sẽ dành cho từ tập
Sâu lắng từ tình trạng tâm lý đến sinh lý
Tuệ có 3 cấp độ đó là trí văn, trí tư, trí tu là công cụ, là hành trang, là hành lý
Thật sự thì những người có trí văn, trí tư thì tu rất dễ, thiền rất dễ
Những người nói tâm phải để rõng rang, học nhiều là sở tri chướng.
Sở tri chướng là do mình học sai từ nhiều nguyên nhân.
Kinh, phật pháp có khả năng tháo gỡ các bất thiện, học càng nhiều chánh pháp thì sự tháo gỡ càng nhiều hơn mặt dù nó chỉ là lý thuyết, là kiến thức.
Học nhiều giáo lý không phải ngồi xếp bằng xuống nhắm mắt lại là thấy 1 đóng văn tự trong đó... Như vậy đã sai nặng rồi
Cởi mở và tháo mỡ khi ngồi xuống, nhắm mắt lại thì dùng phương pháp, chánh pháp đã học để tháo gỡ ra. Đây là phương pháp đúng rồi.
Ngài Mahasi, ngài Pa-auk, ngài Shwe Oo Min , ngài U Pandita là những bậc thầy về kinh điển không lẽ những vị này tu sai sao? Bị sở chỉ chướng sao?
Các ngài chất một kho giáo lý để có các phương tiện tháo gỡ
Người ta toàn là dao, kéo, búa để tháo gỡ
Còn những ông học không đến nơi đến chốn thì nói trạng, nói sở chỉ chướng toàn là một kho keo dán, dán chặt thêm nữa, cột vào.
Toàn là ăn cơm nếp dẽo nhẹo à
Tu tốt tu đúng thì khả năng tháo gỡ càng cao
Tu sai thì khả năng bám vào, cột vào càng nhanh
Có học giáo lý sẽ dễ tu hơn không học giáo lý
Có học giáo lý sẽ dễ tháo gỡ hơn so với không học giáo lý
Có học giáo lý rồi nhưng khi vào pháp tu sẽ khác
Giáo lý được tiêu hoá nó thì sẽ dễ dẫn vào pháp tu
Giáo lý không được tiêu hoá thì khi tu những con số, câu nói, đoạn văn nó hiện trong đầu thì nguy cơ học Sài và tu sai đã hiện ra.
Trong khi đó người ta là pháp sư tam tạng người ta sống chánh niệm cực hồn nhiên
6. ĐỊNH GIÁC CHI
Là khả năng tập trung tư tưởng, là sự gồm tụ, là sự hội tụ
Ví dụ dùng kín lúp hội tụ và đưa ánh nắng vào trong lúp đó nó có khả năng đốt cháy vật nó chiếu vào.
Ví dụ khi ta ngồi gần khe cửa thì gió lùa vào rất mát nhưng khi ra sân thì ta cảm nhận rất là ít
Ví dụ khi ta để bóng đèn không có nắp chụp thì nhiệt năng nó toả đi muôn phương. Nhưng khi ta lấy bóng đèn đỏ chụp lên thì ta lấy tay sờ vào rẫt là nóng.
Cũng khoản cách một gang tay nếu không có bóng đèn thì nó không hề nóng.
Nhưng có bóng đèn thì nó rất nóng.
Đức Phật dạy cho chúng sanh có 40 đề mục để mà thực tập thiền
Sát na định
Cận định
Kiên cố định
A. Sát na định là cố gắng tập trung tư tưởng trong từng khoảnh khắc của người chưa đắc thiền.
Hoặc những người đã đắc thiền rồi nhưng khi họ không nhập thiền thì họ dùng sát na định
Nhưng sự hồn nhiên các ngài tam tạng là căn bản, là nền móng, là đoạn đường dài của sự am hiểu.
Không phải là sự am hiểu cắt khúc thơ ngây của những kẻ ngay của những kẻ có tuệ căn quá yếu để rồi thực hành sai pháp
6 Nguyên nhân dẫn đến thực hành sai pháp khi khi thiếu phước:
- Gặp thầy tà, bạn tà
- Hoàn cảnh sống, không gian sống không tốt, tà pháp
- Tiền nghiệp bất thiện, yếu kém
- Khuynh hướng tâm lý bất thiện
- Lười, thiếu nỗ lực, học hỏi, nghiên cứu tu hành Chánh Pháp
- Tuệ Căn mỏng
B. Cận Đinh
Là giai đoạn tiền chứng định.
Trước khi chứng thiền có khả năng tinh tấn tốt hơn. Có thể ngồi liền nhiều giờ mà không cần biết mưa nắng, nóng lạnh, đói rét gì cả.
C. Kiên cố đinh
7. XẢ GIÁC CHI
Là sự hững hờ, lãnh đạm trong cái thích, ghét, buồn, vui, thiện, ác.
Hững hờ, lãnh đạm không phải là trạng thái làm biến, tiêu cực nhưng trong một trạng thái tích cực, biết chuyện, trách nhiệm
Có một ngày ta chợt nhận ra rằng có sanh tử trong 1000 kiếp nữa cũng vậy thôi
Gặp Phật ra đời đi xuất gia tu thiền chứng thánh thì cũng vậy thôi
Biết bao nhiêu Đức Phật chứng thánh rồi vào niết bàn rồi cũng vậy thôi
Biết bao nhiêu chư hiền thánh chứng thánh rồi vào niết bàn rồi cũng vậy thôi
Bốn mùa xoay vần luân chuyển nhau rồi cũng vậy thôi
Chỉ có điều là mình nên tránh gì và nên làm gì chỉ vậy thôi. Phải sống có trách nhiệm
Xả trong trạng thái tích cực, biết chuyện, trách nhiệm
Nếu tiền nhân không sống tích cực, trách nhiệm, trải lòng thì ai sẽ làm cầu cho mình đi qua.
Nghĩa là mình nhận giá trị của tiền nhân thì mình nên trách nhiệm để lại cũng một giá trị cho hậu nhân
Học phật, tu phật nó không là cái gì để mình tự kêu, tự đắc, mãn, tự xưng, tự tung, tự đại...
Mình chỉ biết là mình bị bệnh và cần uống thuốc chỉ vậy thôi
Khi làm đúng chánh pháp thì phiền não nó vắng mặt thì mình được an lạc dù có chứng thánh hay không thì cuộc đời nó vẫn xoay vần, trái đẫt kia nó vẫn xoay, cuộc đời vẫn trôi, sông hương kia có nói gì đâu, núi ngự bình có nói gì đâu mà huế vẫn còn đó.
Trăng sao vẫn còn đó dù ta có tu hay không tu
Tu học chỉ là tự cứu mình, bị thương thì uống thuốc, băng bó lại thôi
Mình mang thân người, biết được Chánh Pháp thì mình đi theo cái gì cần, cái gì nên chỉ vậy thôi
Với phương châm của người tu là điềm đạm, bình thản, hờ hững, lảnh đạm. Đây là xả giác chi
Các levo tu lên từ từ
ĐỜI
Một kẻ chỉ biết thích ghét, buồn vui, thiện ác chỉ kẻ phàm phù cho đời tự do trôi lăn cách ngẫu nhiên.
Có cái thích là có cái ghét
Không bằng lòng, không vừa ý, bất toại là nó sẽ nổi đoá, nổi điên lên liền
Tu cao hơn xíu nữa là cõi trời dục giới
Lúc này cái bất mãn nó đã hạn chế nhiều rồi nhưng vẫn còn nhiều cái thích
Tu lên một bậc nữa là chứng sơ thiền trở về phạm thiên thì trên đây không còn cõi dục. Niềm vui trên đây chỉ là niềm vui trong thiền định thôi
Cao hơn nữa là niềm vui của các phạm thiên biến mất. Thay thế đó là sự lãnh đạm
Cao hơn nữa là ĐẠO
Trạng thái của vị Từ Đà Hoàn, Tư Đà Hàm là
Thấy được tứ đế nhưng vẫn còn chỗ bất thông còn có cái thích, ghét, đẹp, xấu...
Cao hơn nữa trạng thái của A Na Hàm là thấy được tứ đế, không còn thích ghét, đẹp xấu gì nữa trong thế giới vật chất mà chỉ còn lùi vào trong thiền định mà thôi, vẫn còn cảm vào vị ngọt của sắc ái và vô sắc ái.
Cao hơn nữa là trạng thái của A Là Hán
Không còn thích ghét, buồn vui theo cái kiểu trước đây, không còn đuổi theo vị ngọt của sắc ái và vô sắc ái nữa
2 bậc thánh đầu tiên là vào sở thú là biết các con thú đang bị nhốt trong khi đám phàm phu kia không hề biết chuyện
2 bậc thánh đầu tiên khi đi ngang chuồng thú thì đi qua luôn nhưng đi ngang chuồng két, xiếc khỉ, hoa lan thì thấy hay hay thì đứng lại xem dù vẫn biết đây là chốn lưu đày, tù đày sở thú mà.
Nhưng đến A Na Hàm thì không dắt con đi thôi nhưng con nó thích thì thích còn mình là không, lan cũng không, xiếc khỉ cũng không, xem gì cũng không thích nhưng vẫn còn nguyên nhân gì đó mà phải đặt chân vào đây
Còn bậc A La Hán thì không. Ngài hiểu một cách toàn tri. Nghĩa là không xem thú, không đặt chân vào sở thú. Ngài biết đây là nơi giam cầm là nơi làm khổ mấy con thú. Muốn ngắm hoa lan thì thiếu gì cách, chỗ giam cầm này cũng không nên ngắm, lan trong đây cũng là lần tù đày
Xả Giác Chỉ cũng thế nó cũng Không đắng, không ngọt, cái gì cũng là mù sương, khói mù.
Là sự hững hờ, lãnh đạm trong cái thích, ghét, buồn, vui, thiện, ác.
Hững hờ, lãnh đạm không phải là trạng thái làm biến, tiêu cực nhưng trong một trạng thái tích cực, biết chuyện, trách nhiệm.
_______________________________
Ðức Phật dạy Ðại Ðức Ānanda rằng:
-“Này Ānanda, trong thời vị lai sẽ có hạng người
gọi tên Tỳ khưu “Bhikkhu” còn mảnh y quấn cổ, là
người phạm giới, hành ác pháp. Những người thí chủ có đức tin trong sạch nơi Tam bảo, có tác ý thiện tâm làm phước thiện bố thí cúng dường đến chư Tỳ khưu Tăng dầu trong số Tỳ khưu phạm giới ấy.
Này Ānanda, sự làm phước thiện bố thí cúng
dường đến chư Tỳ khưu Tăng trong thời vị lai ấy,
Như Lai dạy rằng: vẫn có quả báu vô lượng không
sao kể xiết được. Như Lai không hề dạy trực tiếp
hoặc gián tiếp rằng: làm phước thiện bố thí đến cá
nhân thọ thí hưởng quả báu nhiều hơn làm phước
thiện bố thí đến chư Tỳ khưu Tăng thọ thí”.
(1)
Qua đoạn kinh trên, Ðức Phật dạy cho người
Phật tử nên biết rõ khi tác ý thiện tâm nghĩ đến chư Tỳ khưu Tăng là nghĩ đến ngôi Tăng bảo, là phước điền cao thượng của tất cả chúng sinh.
Bởi vì chỉ có cá nhân Tỳ khưu phạm giới (bhikkhu dussīla), còn ngôi Tăng bảo là những bậc Thánh Tăng hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh, cao thượng; cho nên làm phước thiện bố thí cúng dường đến chư Tỳ khưu Tăng, phải nên liên tưởng đến chư bậc Thánh Tăng chắc chắn phước thiện bố thí vô lượng, không sao kể xiết.
Do đó, thí chủ nên có “tác ý thiện tâm trong
sạch nơi Ðức Tăng, tâm không nên nghĩ đến cá
nhân vị Sa di, Tỳ khưu, vị Ðại Ðức nào”.
Ví dụ: Người thí chủ muốn làm phước thiện bố
thí cúng dường đến “Tỳ khưu Tăng” 1 vị, 2 vị,...
người ấy đến bạch với vị Tỳ khưu quản Tăng rằng:
- Kính bạch Ngài Ðại Ðức, con xin thỉnh Tăng
1 vị (hoặc 2 – 3... vị), xin Ngài chỉ định cho con 1
vị Tăng (hoặc 2-3.... vị).
Khi Ngài Ðại Ðức quản Tăng chỉ định vị nào,
thí chủ hoan hỉ đón rước vị ấy, một cách cung kính
như cung kính với chư bậc Thánh Tăng. Như vậy,
gọi là làm phước thiện bố thí cúng dường đến “Tỳ
khưu Tăng thọ thí”.
Nhưng nếu Ngài Ðại Ðức quản Tăng chỉ định
một vị Sa di hoặc một vị Tỳ khưu phạm giới, hoặc
một vị Ðại Ðức có giới hạnh trang nghiêm.... Nếu
người thí chủ nghĩ rằng “ta thỉnh được một vị Sa
di, hoặc vị Tỳ khưu phạm giới, hoặc vị Ðại Ðức có
giới hạnh trang nghiêm”.
Như vậy, không gọi là làm phước thiện bố thí đến Tỳ khưu Tăng thọ thí, mà trở thành cá nhân thọ thí.
Trong Chú giải bài kinh trên, có tích nói về
phước thiện bố thí cúng dường đến Tỳ khưu Tăng,
được tóm tắt như sau:
Người cận sự nam thiện trí là thí chủ xây cất
một ngôi chùa dâng cúng đến chư Tăng.
Một hôm, ông đến chùa thỉnh “Tỳ khưu Tăng” 1 vị về nhà làm phước thiện bố thí cúng dường vật thực, Ngài Ðại Ðức quản Tăng kiểm Tỳ khưu, lần này đến phiên một vị Tỳ khưu có giới hạnh không trong sạch, không trang nghiêm, được chỉ định đại diện “Tỳ khưu Tăng” đến nhà người cận sự nam này.
Buổi sáng vị Tỳ khưu mặc y mang bát đến nhà,
người cận sự nam đón rước cung kính như một vị
Ðại Ðức cao Tăng, như là rữa chân, lau hai bàn
chân, thỉnh mời ngồi chỗ cao quý, tự tay mình dâng
cúng những món vật thực ngon lành với tâm hoan
hỉ và kính trọng “Tỳ khưu Tăng”.
Vị Tỳ khưu ấy sau khi độ vật thực xong trở về chùa, người cận sự nam tiễn đưa về đến chùa cũng với tâm hoan hỉ và kính trọng “Tỳ khưu Tăng”.
Buổi chiều vị Tỳ khưu ấy đến nhà người cận sự
nam này mượn đồ dùng để làm việc riêng, người
cận sự nam này dùng chân đẩy món đồ dùng ra cho mượn không một chút kính trọng, rồi bảo rằng:
“Hãy đem đi!”.
Một người bên cạnh theo dõi hành vi cử chỉ
người cận sự nam này từ sáng đến chiều hoàn toàn trái ngược nhau, không hiểu tại sao? Muốn tìm hiểu, nên hỏi người cận sự nam này rằng:
- Thưa anh, tôi nhìn thấy sáng nay anh tỏ ra
kính trọng với vị Tỳ khưu giới hạnh không trong
sạch ấy, như một vị Ðại Ðức cao Tăng, mà chiều
nay anh lại đối xứ với vị Tỳ khưu ấy không có chút
nào kính trọng cả. Tại sao như vậy? Thưa anh.
Người cận sự nam thí chủ thưa rằng:
- Sáng nay, tôi hết lòng cung kính, vì thiện tâm
của tôi hướng đến “Tỳ khưu Tăng”, hoàn toàn
không phải hướng đến cá nhân vị Tỳ khưu ấy.
Chiều nay, tôi tỏ ra không kính trọng đến cá
nhân vị Tỳ khưu ấy, bởi vì tôi thấy rõ vị Tỳ khưu ấy
có giới hạnh không trong sạch, thân và khẩu không
trang nghiêm, không thu thúc lục căn thanh tịnh,
cho nên, tôi không cung kính đến cá nhân vị Tỳ
khưu ấy, hoàn toàn không liên quan đến Tỳ khưu
Tăng.
Qua tích trên, người cận sự nam thí chủ có trí
tuệ, hiểu biết cách làm phước bố thí cúng dường
một cách cung kính đến Tỳ khưu Tăng (dầu gặp vị
Tỳ khưu có giới không trong sạch).
Việc làm phước bố thí cúng dường đến Tỳ khưu Tăng này có được phước thiện vô lượng, có quả báu vô lượng, suốt vô lượng kiếp
_______________________________
NGŨ UẨN
Năm uẩn đối tượng của sự bám níu là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nó là gì?
Năm uẩn ấy là những gì mà ta luôn luôn kinh nghiệm. Không cần phải đi tìm ở đâu. Nó ở ngay bên trong chúng ta.
Khi ta thấy, nó ở trong sự thấy. Khi nghe, nó ở trong sự nghe. Khi hửi, nếm, sờ đụng hoặc suy tư, nó ở trong mùi, vị, xúc chạm, và tư tưởng.
Khi ta co vào, duỗi ra, hoặc cử động chân tay, năm uẩn ở trong sự co vào, duỗi ra, hoặc cử động. Chỉ có điều là ta không biết rằng nó là ngũ uẩn.
Bởi vì ta không hành thiền, không quán niệm và không hiểu biết đúng như thật sự nó là vậy. Vì không hiểu biết thực tướng của nó nên chúng ta bám níu vào với lòng tham ái và tà kiến.
Điều gì xảy ra khi ta co tay vào? Trước tiên, có ý định co vào. Sau đó, có những hình thức co vào liên tục tiếp nối.
Ý định co vào gồm bốn uẩn thuộc về danh, phần tâm linh. Cái tâm có ý định co tay vào là thức uẩn. Khi nghĩ đến co tay vào và sau đó, cử động co tay vào, ta có thể cảm nhận thọ lạc hay thọ khổ, hoặc thọ vô ký (không lạc không khổ).
Nếu co tay vào một cách thoải mái dễ chịu thì đó là thọ lạc. Nếu cảm nghe khó chịu hay bực mình thì đó là thọ khổ. Nếu không cảm nghe thoải mái cũng không khó chịu thì đó là thọ vô ký.
Như vậy, khi nghĩ đến sự co tay vào, có "thọ" uẩn. Rồi tiếp theo là tri giác, cái uẩn hay biết cử động co tay vào, đó là tưởng uẩn.
Rồi có trạng thái tâm giục ta co tay vào. Ta cảm nghe như có lời thúc giục, "Hãy co tay vào! Hãy co tay vào!" Đó là hành uẩn.
Như vậy trong ý định co tay vào có đủ tất cả bốn uẩn của danh: thọ, tưởng, hành, thức.
Cử động co tay vào là phần vật chất, hay hình sắc. Đó là sắc uẩn. Như vậy ý định co tay vào cùng với cử động co tay vào bao gồm tất cả năm uẩn.
Trong một cử động co tay vào có đủ ngũ uẩn. Ta cử động một lần, có ngũ uẩn phát sanh một lần. Ta cử động một lần nữa, có ngũ uẩn phát sanh một lần nữa. Mỗi cử động khơi mào cho ngũ uẩn phát sanh một lần.
Nếu ta không hành thiền, không suy niệm về ngũ uẩn và không hiểu biết ngũ uẩn một cách chân chánh, khỏi cần phải nói chuyện gì xảy ra. Chính ta sẽ tự biết lấy.
Đúng vậy, ta nghĩ, "Tôi có ý định co tay vào" và "Tôi co tay vào". Có phải vậy không? Mỗi người đều hiểu như vậy. Hỏi một em bé, em sẽ trả lời như vậy. Hỏi một người đứng tuổi mà không biết đọc biết viết, người ấy cũng trả lời y như vậy.
Bây giờ, hỏi một người biết đọc, biết viết. Nếu ông ta thành thật nói ra đúng như ông thật sự nghĩ thì câu trả lời cũng giống như vậy. Nhưng ông là người có học vấn, ông có thể chế tạo một câu trả lời thích hợp với kinh điển. Ông sẽ nói đó là "danh-sắc".
Trả lời như vậy không phải vì ông am hiểu như vậy, mà vì ông cố tạo nên một câu trả lời thích hợp với những gì mình học trong kinh điển. Sâu kín trong thâm tâm, ông ta vẫn nghĩ, "Chính 'Tôi' có ý định co tay vào", "Chính 'Tôi' co tay vào", "Chính 'Tôi' muốn cử động", "Chính 'Tôi' cử động".
Ông cũng nghĩ, "Cái 'Tôi' ấy đã có hiện hữu trước kia, đến nay vẫn còn đang hiện hữu, và sẽ còn hiện hữu trong tương lai. Ta tồn tại mãi mãi."
Lối suy tư ấy được gọi là ý niệm thường còn. Không có ai nghĩ rằng "Cái ý định co tay vào chỉ hiện hữu trong hiện tại".
Người tầm thường luôn luôn nghĩ, "Cái tâm nầy trước kia đã có hiện hữu. Cũng cái tâm trước kia đã có hiện hữu nầy, bây giờ đang nghĩ đến việc co tay vào".
Họ cũng nghĩ, "Cái 'Tôi' mà đang suy tư, đang hiện hữu trong hiện tại, sẽ còn tiếp tục hiện hữu trong tương lai."
Khi co vào hoặc cử động tay chân ta nghĩ, "Chính tay chân nầy đã có hiện hữu trước kia, và hiện giờ đang cử động. Chính cái 'Tôi' nầy đã hiện hữu và hiện đang cử động". Sau khi cử động tôi lại nghĩ trở lại, "Tay chân nầy, cái 'Tôi' nầy, luôn luôn tồn tại".
Ta không hề nghĩ rằng tất cả những cái ấy đều phải hoại diệt. Đó cũng là ý niệm thường còn. Đó là bám níu vào những gì vô thường mà xem là trường tồn, bám níu vào những gì vô ngã, không có thực chất, mà xem là bản ngã, là cái 'Tôi' vĩnh cửu.
Rồi, bởi vì ta co tay chân vào hay duỗi ra theo ý muốn, ta nghĩ rằng như vậy là rất tốt đẹp. Thí dụ như khi cảm nghe cánh tay bị tê cứng, ta xếp cánh tay lại, di động theo một chiều khác, và nghe hết tê. Ta cảm thấy thoải mái dễ chịu và nghĩ rằng như vậy là rất tốt đẹp. Ta nghĩ rằng đó là vui sướng, hạnh phúc.
Những nhà khiêu vũ thiện nghệ hay tài tử, nhảy múa, co tay co chân vào rồi duỗi ra và nghĩ rằng thật là tốt đẹp. Họ lấy làm thỏa thích và tự mãn. Khi trò chuyện với nhau chúng ta thường quơ tay và cử động đầu. Chúng ta thỏa thích nghĩ rằng đó là hạnh phúc. Khi viên mãn hoàn tất một công trình ta cũng thấy là tốt đẹp và cảm nghe hạnh phúc.
Đó là hoan hỉ, thỏa thích do tham ái và bám níu vào sự vật. Cái vô thường tạm bợ ta xem là thường còn và hoan hỉ thọ hưởng. Cái không phải là hạnh phúc, không phải là tự ngã vĩnh tồn, mà chỉ là những nhóm thành phần vật chất hay tinh thần (những uẩn), ta xem là hạnh phúc, là tự ngã và hoan hỉ thỏa thích.
Chúng ta thỏa thích với nó, bám sát vào nó, lầm tưởng rằng nó là chính ta, là tự ngã của ta, và chặt chẽ dính mắc vào nó.
Vậy, khi co vào, duỗi ra, hoặc cử động tay chân ta có ý nghĩ, "Tôi sẽ co vào" là uẩn thủ. Cử động co vào là uẩn thủ. Ý nghĩ duỗi ra là uẩn thủ. Sự duỗi ra là uẩn thủ. Ý nghĩ, "Ta sẽ cử động" là uẩn thủ. Sự cử động là uẩn thủ.
Khi nói hành thiền về ngũ uẩn thủ chúng ta chỉ đề cập đến những sự việc như vậy.
Sự việc cũng xảy diễn cùng một thế ấy khi ta thấy, nghe, hửi v.v... Khi thấy, nền tảng của sự thấy hiển nhiên là mắt. Đối tượng của sự thấy cũng biểu lộ hiển nhiên. Cả hai -- mắt và đối tượng của sự thấy -- là phần vật chất (sắc), tự chính nó không có khả năng hay biết.
Nhưng nếu không chú niệm trong khi thấy ta sẽ dính mắc vào nó. Ta nghĩ rằng toàn thể thân nầy, cùng với mắt, là thường còn, là hạnh phúc, là tự ngã của ta, và bám níu vào nó, nghĩ rằng toàn thể thế gian vật chất, cùng với đối tượng của sự thấy nói trên, là thường còn, đẹp đẽ, tốt lành, hạnh phúc, là bản ngã của ta, và bám níu vào nó. Như vậy, mắt (nhãn căn) và đối tượng của sự thấy (nhãn trần) là những uẩn thủ (những nhóm đối tượng của sự bám níu).
Và trong khi thấy, sự "trông thấy" (nhãn thức) cũng hiển nhiên. Đó là bốn uẩn thuộc về danh, phần tâm linh. Hay biết có sự thấy -- chỉ có sự thấy suông, chỉ thấy thôi mà không biết thấy gì -- là thức uẩn. Thỏa thích hay bất mãn khi thấy là thọ uẩn. Cái gì nhận ra đối tượng của sự thấy là tưởng uẩn. Cái gì hướng sự chú ý đến đối tượng của sự thấy là hành uẩn. Đó là bốn uẩn cấu thành phần tâm linh.
Nếu không niệm trong khi thấy ta có khuynh hướng nghĩ rằng cái thấy nầy "trước đây đã có hiện hữu và hiện thời đang hiện hữu". Hoặc nữa, khi thấy điều tốt đẹp ta có thể nghĩ, "Sự thấy là tốt đẹp", và khi suy tư như vậy ta theo đuổi, bám níu vào những sự việc tốt đẹp và kỳ diệu biểu hiện trong sự thấy.
Ta bỏ tiền ra để xem múa hát hay xem chớp bóng, lắm khi phải mất ngủ và tổn hại đến sức khỏe, vì ta nghĩ rằng làm như vậy là tốt, là đúng. Nếu không nghĩ là tốt ắt ta không tiêu phí tiền bạc, thì giờ và chịu để sức khỏe bị hao mòn. Ta nghĩ rằng cái gì xem múa hát là "Ta". "Ta Xem", "Ta Thỏa Thích". Đó là bám níu (thủ) với tham ái và tà kiến. Vì ta dính mắc, luyến ái, bám chặt vào danh và sắc biểu lộ trong sự thấy, nên gọi đó là uẩn thủ, những nhóm đối tượng của sự bám níu.
Cùng một thế ấy, ta bám níu trong sự nghe, sự hửi, sự nếm v.v... Ta cũng bám níu chặt chẽ hơn vào cái tâm nghĩ ngợi, tưởng tượng, suy tư, xem đó là "Ta", là "Tự Ngã" chắc thật của ta.
Như vậy, ngũ uẩn thủ không phải gì khác hơn là chấp thủ vào những gì tự biểu hiện nơi sáu cửa (lục căn, hay lục nhập) mỗi khi ta thấy, nghe, thọ cảm, hoặc hay biết. Ta phải cố gắng thấy rõ các uẩn ấy đúng theo thực tướng của nó. Hành thiền về ngũ uẩn và nhận thấy rõ ràng như đúng thực nó là vậy, thấu triệt thực tướng của ngũ uẩn, là tuệ minh sát.
Những thời Pháp do Ngài MAHASI SAYADAW thuyết giảng nhân dịp Đầu Năm Miến Điện 1320 (1959 D.L)
Maung Tha Noe dịch từ tiếng Miến Điện sang Anh
Bác Phạm Kim Khánh dịch từ Anh sang Việt
_____/
_____________________________