Học lời Phật dạy

Học lời Phật dạy Trao giá trị - Nhận yêu thương ❗
Tâm bệnh phải chữa bằng Tâm dược ❗ Thảo dược bảo vệ sức khỏe
(1)

27/02/2026
[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp]❤️CÂU HỎI SỐ 128-129. PHƯỚC BÁU CỦA ĐỨC THẾ TÔN KHÔNG ƯU THẮNG, TỐI THƯỢNG BẰNG ĐỆ TỬ CỦA MÌNH? ❤️...
29/01/2026

[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp]
❤️CÂU HỎI SỐ 128-129. PHƯỚC BÁU CỦA ĐỨC THẾ TÔN KHÔNG ƯU THẮNG, TỐI THƯỢNG BẰNG ĐỆ TỬ CỦA MÌNH? ❤️❤️
------
128. LÝ DO NẶNG NHẸ CỦA TỘI NÓI DỐI!
- Bạch đại đức! Trẫm có đọc sơ về tạng Luật, không thông suốt lắm, nếu Trẫm nhớ không
lầm thì Đức Thế Tôn có thuyết rằng: Thầy tỳ khưu nói dối, nói dối do cố ý, có hiểu, có
biết (sampajàna) thì phạm tội bất cọng trụ (pàràjika)! Ở một chỗ khác, ngài lại chế định
rằng: Điều nói dối dầu cố ý, có hiểu, có biết (sampajàna) chỉ phạm tội nhẹ, không phạm
tội nặng; là tội có thể trị được, tha thứ được, có thể cứu chữa được (satekicchà), có thể
sám hối được (desanapatti)! Tại sao hai điều chế định ấy lại mâu thuẫn nhau, nghịch
nghĩa nhau hở đại đức?
- Tâu đại vương! Về chuyện đúng hay sai, chính xác hay chưa chính xác của điều mà đại
vương vừa dẫn chứng, bần tăng sẽ bàn sau. Bây giờ chúng ta chỉ nói đến tội nói dối. Quả
thật, có tội nói dối mà thầy tỳ khưu nào đã phạm rồi thì bị "bất cọng trụ" (pàràjika);
nhưng cũng có tội nói dối dẫu đã phạm rồi, nghĩa là nói dối do cố ý, do có hiểu, có biết -
vẫn chỉ phạm tội nhẹ, là tội có thể trị được, tha thứ được, cứu chữa được, sám hối được!
- Trẫm nghe chưa lọt tai, thưa đại đức!
- Bần tăng có thể nói điều ấy bằng ví dụ. Ví như có người phạm tội giết vua, một người
khác phạm tội giết dân thường. Hai tội giết người ấy đều phạm án giống nhau phải không
đại vương?
Đức vua Mi-lan-đà lắc đầu:
- Chẳng thể giống nhau được, thưa đại đức! Người giết hại dân thường tùy theo mức độ,
có thể định án là ở tù chung thân, bị phạt hoặc bị tử hình. Còn người giết vua thì bị đại
tội. Kinh khiếp lắm! Luật nhà vua về tội giết vua thật là nghiêm trọng: người ấy sẽ bị chặt
bỏ cả tay cả chân, tịch thu gia sản, của cải nhập công khố; sẽ bị giết chết dần dần rất thê
thảm; giết luôn cả thân quyến của người ấy, phía họ cha giết đến bảy đời và phía họ mẹ
cũng giết đến bảy đời...!
- Tâu đại vương! Tại sao cũng là tội giết người, tự tay giết, cố ý, cố tình giết mà một bên
nặng, một bên nhẹ khác nhau một trời, một vực như thế?
- Tội nặng nhẹ khác nhau, lý do như thế nào chắc đại đức đã hiểu rồi: Đức vua là đấng
chí tôn của một nước, còn người dân thường là kẻ ở trong các địa vị thấp hèn. Khinh,
trọng thế nào thì pháp luật thế gian không có nơi nào biệt lệ!
- Tội giết người có khinh trọng thì tội nói dối cũng có khinh trọng như thế, tâu đại vương!
Bần tăng sẽ kể sơ lược ra đây một số tội nói dối tùy theo mức độ nặng, nhẹ của nó:
Thầy tỳ khưu chưa đắc pháp bậc cao nhơn [*] mà nói dối để cho kẻ hiểu biết tin rằng
mình đắc pháp bậc cao nhân là tội nói dối nặng, bị phạt "bất cọng trụ", tức là bị đuổi ra
khỏi hàng ngũ Tăng già, suốt đời không còn có thể "cọng trú" với Tăng được nữa. Nhưng
nếu nói đến người không hiểu, không biết thì chỉ phạm "trọng tội". Nói mé, nói ngụ ý
hoặc ám chỉ mình có đắc pháp cũng phạm "trọng tội"; nhưng nếu nói ám chỉ, nói mé dến
người không hiểu, không biết thì chỉ phạm "tác ác".
[*] Các pháp bậc cao nhơn: 4 thiền hữu sắc, 4 thiền vô sắc, lục thông, 4 đạo, 4 quả và
Niết bàn.
Thầy tỳ khưu nói dối vô cớ, cáo gian tỳ khưu khác phạm "bất cọng trụ" thì phạm "Tăng
tàn". Nói dối vô cớ, cáo gian tỳ khưu khác phạm "Tăng tàn" thì phạm "ưng đối trị". Nói
dối, cáo gian kẻ khác làm quấy thì phạm "tác ác"... v.v...
Nói tóm lại là các tội nói dối thuộc bất cọng trụ là tội rất nặng, phải xả giới hoàn tục. Tội
nói dối thuộc Tăng tàn phải trình Tăng để xử theo luật định. Các tội nói dối khác thuộc
ưng đối trị, trọng tội hoặc tác ác là những tội nhẹ, có thể trị được, tha thức được, có thể
cứu chữa được (satekicchà), có thể sám hối được (desanapatti).
Tâu đại vương! Các tội nói dối có khinh, có trọng như thế, nhưng vì đại vương đã không
nắm rõ, biết chắc nên sinh ra ngộ nhận đấy thôi!
- Rất cám ơn đại đức!

129. PHƯỚC BÁU CỦA ĐỨC THẾ TÔN KHÔNG ƯU THẮNG, TỐI THƯỢNG BẰNG ĐỆ TỬ CỦA MÌNH?
- Thưa đại đức! Rất nhiều lần Đức Thế Tôn có thuyết rằng: "Này các thầy tỳ khưu! Như
Lai là bà-la-môn cao quý, xứng đáng cho chư thiên và nhân loại đảnh lễ, xứng đáng để
cho kẻ khác xin rửa tay dâng phẩm vật cúng dường; là bậc tối thượng trong tam giới, là
bậc chỉ còn kiếp sống cuối cùng, không còn quẩn quanh trở lại trong tam giới nữa; là
bậc tôn quý, vô thượng... không ai sánh bằng.". Câu Phật ngôn ấy có chính xác không?
- Tâu, khá chính xác!
- Thế sao ở một chỗ khác, khi khen ngợi tỳ khưu Bàkula, Đức Thế Tôn có tuyên bố như
sau: "Trong hàng thinh văn đệ tử của Như Lai, tỳ khưu Bàkula là người thiểu bệnh, có
phước báu tuyệt đỉnh, là đệ nhất ưu hạng, là người cao quý không ai sánh bằng...". Câu
thuyết ngôn này có chính xác không, thưa đại đức?
- Tâu, cũng rất đúng.
- Và chính xác nữa! Vì Đức Thế Tôn bị bệnh đến bốn lần, còn tỳ khưu Bàkula suốt cả
cuộc đời dường như vô bệnh. Như thế có nghĩa là, phước báu của tỳ khưu Bàkula là tối
thượng, ưu hạng, là tuyệt đỉnh không ai sánh bằng, kể cả Đức Tôn Sư!
- Sao có thể lý luận như vậy được, đại vương!
- Vậy thì đại đức có thể minh giải điều ấy được chăng?
- Vâng, dễ dàng thôi. Chẳng cần phải giải minh, bần tăng chỉ nói lên sự thật thì đại vương
có thể hiểu rõ cách khen ngợi của Đức Thế Tôn. Khi một vị tỳ khưu giỏi, thông suốt một
lĩnh vực nào thì Đức Thế Tôn thường khen ngợi vị ấy là tối thượng, là đệ nhất ưu hạng
về lĩnh vực ấy. Chẳng hạn, Đức Thế Tôn khen ngợi đại đức Upàlì là ưu hạng đệ nhất về
tạng Luật, đại đức Mahà Kassapa đặc biệt ưư hạng về Vi-diệu tạng, đại đức Ànanda thì
tối thắng, ưu hạng đệ nhất về tạng Kinh, v.v... Từ đó, ta có thể hiểu rõ, tại sao có vị Đức
Thế Tôn khen ngơi là đệ nhất về thuyết pháp, có vị được khen là đệ nhất về thiền định, đệ
nhất về tinh tấn, đệ nhất về khổ hạnh, đệ nhất về hạnh độc cư, thanh tịnh v.v... Nói tóm
lại, Đức Thế Tôn khen ngợi, tán dương các đệ tử của Ngài là cao quý, cao thượng, là ưu
hạng, là đệ nhất... không có nghĩa là họ cao quý, cao thượng, tối thắng hơn cả Đức Tôn
Sư!
- Như thế có nghĩa là, Đức Thế Tôn chỉ ca ngợi phước báu của tỳ khưu Bàkula về
phương diện "vô bệnh" mà thôi?
- Vâng, chỉ riêng có lĩnh vực ấy, bởi chẳng ai có thể so sánh với Đức Tôn Sư ở nhiều
phương diện khác. Họ chỉ là đệ nhất ở trong hàng thinh văn đệ tử của Ngài! Làm thế nào
mà trong hàng ngũ của chư thiên, loài người, phạm thiên, sa-môn, bà-la-môn... lại có kẻ cao quý, ưu hạng, tối thượng bằng một vị Chánh Đẳng Giác? Ai mà có thể so sánh về
giới, định, tuệ, giải thóat và giải thóat tri kiến với Đức Tôn Sư? Liệu ai có thể có mười
sức mạnh tuệ giác, mười tám tuệ dũng mãnh vượt qua sinh tử ái hà như Bậc Vô Thượng?
Quả thật, chẳng ai có thể so sánh được với Đức Đại Giác.
- Đại đức cho nghe ví dụ được chăng?
- Vâng. Ví như trong quốc độ của đại vương, vốn có nhiều giai cấp, nghề nghiệp, dòng
họ, thiên tư, hiểu biết, trí tài, khả năng khác nhau... Có người là đệ nhất về vàng bạc châu
báu, tài sản. Có người là đệ nhất về đất đai, ruộng vườn. Có người là đệ nhất về kiến
thức, hiểu biết... Đệ nhất về các học nghệ... Đệ nhất về tinh thông văn học, cú pháp, văn
phạm... Đệ nhất về bùa chú, ngải nghệ... Đệ nhất về chế tạo cung tên, khí giới v.v... Ở
mỗi lĩnh vực, trí tài nào đó, họ là đệ nhất; tuy thế, họ đều là thần dân của đại vương, phục
vụ cho đại vương, phải tôn trọng, cúi đầu, thuần phục đại vương; chẳng ai có thể so sánh
bằng đại vương, bởi đại vương mới chính là người ở trên hết, tối thượng tôn, cao quý
nhất ở trong quốc độ của đại vương. Đức Thế Tôn so với hội chúng của Ngài, với các
hàng thinh văn đệ tử cũng y như thế. Đừng nói chỉ một phước báu của Bàkula, mà hàng
trăm phước báu của Bàkula... cho chí hai vị thượng thủ, đại đệ tử của Ngài, dẫu là những
bậc cao quý vô song... cũng chẳng thể đem ra so sánh với Đức Thế Tôn được!
Đức vua Mi-lan-đà im lặng giây lâu rồi hỏi:
- Trẫm đã hiểu rồi. Nhưng về phương diện vô bệnh thì phước báu của tỳ khưu Bàkula vẫn
là đệ nhất chứ? Không rõ do nhân duyên quá khứ như thế nào mà tỳ khưu Bàkula được
hưởng quả thù thắng như thế?
- Tâu đại vương, quả là có nhân duyên thù thắng nên mới hưởng được quả thù thắng. Số
là vào thời xưa, tỳ khưu Bàkula đã từng làm thầy thuốc, đã cúng dường y dược đến cho
Đức Phật Anomadassì, Đức Phật Vippassì và luôn cả tỳ khưu Tăng sáu ngàn tám ức vị.
Do duyên lành ấy nên đã rất nhiều đời, tỳ khưu Bàkula chẳng hề có bệnh tật hay đau ốm
gì cả. Bởi vậy, Đức Thế Tôn mới khen ngợi, tán dương tỳ khưu Bàkula là cao quý, là ưu
hạng không ai sánh bằng! Đại vương đã hiểu tự sự, đầu đuôi gốc ngọn rồi chứ?
- Vâng, vâng! Trẫm rất hoan hỷ, hoan hỷ đệ nhất!
* * * *
[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp - Thầy Thích Trúc Thái Minh thuyết giảng]
💁Quý đồng đạo quan tâm hãy cùng lắng nghe hết video dưới đây ạ!👇👇👇





Phước Báu Của Đức Thế Tôn Không Ưu Thắng, Tối Thượng Bằng Đệ Tử Của Mình? | Kinh Mi Tiên Vấn Đáp - Câu 129 Giảng sư: Thầy Thích Trúc Thái Minh---➡️ Quý Phật ...

29/01/2026

[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp]
❤️CÂU HỎI SỐ 127. ĐỨC PHẬT MUỐN CHE DẤU PHÁP? ❤️❤️
------
- Thưa đại đức! Đức Thế Tôn có dạy rằng: "Pháp và Luật nếu được công khai thuyết dạy
đến đâu thì sẽ làm cho Chánh Pháp được hưng thịnh và rực rỡ đến đấy. Nếu Pháp và
Luật bị che dấu, không được thuyết ra thì đến lúc nào đó, Chánh Pháp sẽ lu mờ, bị tiêu
hoại...". Điều ấy có đúng chăng, đại đức?
- Tâu, rất đúng ạ!
-Thế sao trong tạng Luật, Đức Thế Tôn lại giáo giới rằng: "Các thầy tỳ khưu khi tụng
giới bổn Pàtimokkha trong ngày phát lồ (uposatha), phải tụng nơi kín đáo, có Sìma ngăn,
không được cho các hàng sa di và cận sự nam nữ hai hàng bước vào trong địa giới hoặc
trong phạm vi nghe được"? Tại sao lại cố ý che dấu, không mở rộng việc truyền tụng giới
luật cho tất thảy cùng nghe để được tăng trưởng kiến thức, phát khởi và củng cố đức tin?
Như thế, rõ ràng Đức Thế Tôn đã cố ý khuyên Chư Tăng che dấu Pháp và Luật, không cố
ý mở mang giáo pháp để lợi lạc cho những người học Phật được nếm ý vị, pháp vị, giải
thóat vị của Đạo Giác Ngộ.
Vậy xin đại đức bi mẫn giải thích khúc mắt ấy cho trẫm được tỏ tường.
- Chẳng phải là che dấu Pháp và Luật đâu, tâu đại vương. Đức Thế Tôn bao giờ cũng
thuyết pháp với bàn tay mở ra chứ không phải với bàn tay nắm lại. Bao giờ Ngài cũng
muốn cho giáo pháp được mở rộng, phát triển, hưng thịnh; được quảng bá sâu rộng giữa
nhân gian để cứu độ cho nhiều người.
Riêng về giới bổn Pàtimokkha mà chư tỳ khưu Tăng đọc tụng trong các ngày phát lồ, sở
dĩ phải tụng nơi kín đáo, có Sìma ngăn, không thể cho các người chưa tu lên bậc trên
bước vào hay nghe được, là bởi những lý do sau đây:
Một là, truyền thống của chư Phật từ ngàn xưa truyền lại cho đến ngày nay, bao giờ giới
bổn Patimokha cũng chỉ được phép đọc tụng giữa chư tỳ khưu Tăng với nhau mà thôi.
Hai là, cần phải tỏ ra tôn trọng luật, cung kính giới bổn, không để cho những sa di và cư
sĩ xem thường, xem nhẹ.
Ba là, phải tôn trọng phẩm mạo và địa vị của tỳ khưu trong giới luật của bậc Thánh.
Vì ba lý do như vậy nên phải đọc tụng giới bổn nơi kín đáo, có Sìma ngăn - tâu đại vương
rõ.
- Thế nào là do dòng giống của Chư Phật truyền thừa hở đại đức?
-- Ví như đại vương là dòng dõi vua chúa, thái tử của đức vua tương lai cũng sẽ được làm
vua. Nếu có trường hợp là đại vương phải giáo giới, la rầy thái tử về một vài tư cách,
hạnh kiểm không tốt của thái tử thì đại vương sẽ dạy bảo thái tử nơi kín đáo, hay là đại
vương sẽ giáo giới thái tử giữa chỗ tai mắt bá quan cùng dự bàn hay cho bá tánh cùng
nghe?
- Dòng vua thì phải biết bảo vệ dòng vua chứ! Làm sao chuyện giáo giới thái tử lại mang
ra chỗ tai mắt đông người!
- Tâu, phép của Phật từ ngàn xưa cũng như thế ấy. Khi chư tỳ khưu Tăng tụng đọc giới
bổn Pàtimokkha với nhau, đó chính là lúc họ sửa sai, sám hối, kiện toàn những học giới
cho nhau. Chuyện ấy làm sao lại đem ra chỗ tai mắt đông người mà phẩm bình, phê bình được? Dòng dõi, tông chủng tỳ khưu thì phải biết bảo vệ giống dòng, tông chủng của tỳ
khưu chứ?
Đức vua Mi-lan-đà gật đầu:
- Có lý lắm!
- Ví như những tay đô vật nhà nghề, họ thường giữ riêng những ngón nghề không truyền
cho kẻ khác; những người thợ vàng, thợ bạc, thợ ngọc, thợ làm dây chuyền giữ riêng bí
quyết cho gia đình mình, dòng họ mình; những người có tài nghệ đặc biệt thường dấu tài
nghệ không bao giờ phổ biến ra giữa đám đông - thủ tục ngàn xưa của Chư Phật để tỳ
khưu chỉ đọc tụng giới bổn với tỳ khưu cũng như thế ấy, tâu đại vương!
- Vâng, trẫm hiểu rồi. Còn lý do thứ hai: tôn trọng luật, cung kính giới bổn, chẳng nên để
cho những người khác xem thường, xem nhẹ là sao ạ?
- Giới bổn Pàtimokkha là giới bổn cao thượng, làm cho những người thọ trì được cao
đẹp, thánh thiện và tôn quý. Người thực hành giới bổn Pàtimokkha trong sạch và viên
mãn sẽ dễ thành tựu các tầng thánh quả và chứng ngộ Niết-bàn. Sự thu thúc giới bổn là
pháp căn bản, giềng mối cho những hạnh phúc siêu thê; chỉ riêng tỳ khưu tăng mới thọ
trì, y chỉ, thực hành. Nó giống như cái lõi chiên đàn quý báu, chỉ thích đáng dành cho các
hàng vua chúa, hoàng hậu, công chúa sử dụng. Người dân thường không dễ gì biết lõi
chiên đàn là quý; nếu họ nắm trên tay họ cũng xem như que củi, chẳng giá trị gì. Giới
bổn Pàtimokkha cũng quý báu như lõi chiên đàn kia vậy, chỉ có chư tỳ khưu Tăng mới
biết thọ trì, đọc tụng; còn các hàng sa di, cư sĩ hai hàng cũng sẽ xem thường, xem nhẹ
như người dân thường đối với lõi chiên đàn kia thôi!
Do vậy, vì tôn trọng, cung kính giới bổn cũng như tôn trọng, cung kính cái gì thiêng
liêng, cao đẹp nên việc không để cho sa di, cư sĩ dự thính khi đọc tụng là điều hoàn toàn
cần thiết.
- Trẫm lãnh hội được rồi, vậy còn lý do thứ ba: tôn trọng phẩm mạo và địa vị của tỳ khưu
trong giới luật của bậc thánh là thế nào?
- Tâu, phẩm mạo tỳ khưu, tức là phẩm mạo của bậc xuất gia, nó cao thượng như thế nào
thì đại vương đã biết rồi. Là cái gì không thể độ chừng được, so sánh được, đo lường
được; chẳng có cái gì tương tợ, ngang bằng được. Ví như biển sâu chưa ai đo lường, ví
như ngọc mani vô giá chẳng có vật báu thế gian nào so sánh - giới bổn Pàtimokkha hằng
tạo nên phẩm mạo của bậc xuất gia, cũng y như thế đó. Nó là tài sản riêng của Tăng, đồ
dùng riêng của Tăng, nó sanh ra chỉ để dành riêng cho Chư Tăng - không có ai khác sử
dụng được. Ví như thảm trải giường, các đồ ngự dụng, vật thoa, vật thơm, voi báu, ngựa
báu, ngọc nữ,, hầm bạc, hầm vàng... được sanh lên là do nhờ công đức, phước báu của
Chuyển luân Thánh vương! Chỉ có Đức vua Chuyển luân mới thích đáng quản thủ, sử
dụng tài sản ấy; những vị vua ít phước báu, những người địa vị thấp thỏi đâu có xứng
đáng dự phần, phải vậy không đại vương?
Thưa, đúng thế!
- Giới bổn Pàtimokkha cũng như thế ấy, chẳng thể để cho những người ít học giới, ngoài
chư tỳ khưu Tăng xen vào, dự phần được. Đức Thế Tôn điều chế giới bổn để cho chư tỳ
khưu đọc tụng với nhau ở trong Sìma ngăn, không cho sa di và cư sĩ dự thính là còn để
cho thế gian biết tôn trọng, cung kính tỳ khưu; vì tỳ khưu Tăng là ruộng phước vô giá, là
nơi cho chư thiên và nhân loại cung kính, lễ bái, cúng dường... Sự tôn trọng phẩm mạo và
địa vị của chư tỳ khưu Tăng còn là sự bảo lưu Chánh Pháp, lưu hậu Chánh Pháp tồn tại
nhiều ngàn năm về sau nữa, tâu đại vương!
- Quả thật là thích đáng. Cảm ơn đại đức đã mở sáng con mắt cho trẫm nhìn xa trông
rộng hơn.
Đại đức Na-tiên kết luận ý nhị:
- Vậy là Đức Thế Tôn che dấu giáo pháp mà lại làm cho giáo pháp hưng thịnh dài lâu
đấy, tâu đại vương!
- Rõ là trẫm sử dụng ngôn lời chưa chính xác, trẫm hiểu tội của mình rồi!
- Nhờ cái tội của đại vương mà các thế hệ mai sau chấm dứt được hoài nghi, như thế
cũng nên làm tội lắm!
Đức vua Mi-lan-đà bất giác cười xòa.
* * * *
[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp - Thầy Thích Trúc Thái Minh thuyết giảng]
💁Quý đồng đạo quan tâm hãy cùng lắng nghe hết video dưới đây ạ!👇👇👇





29/01/2026

[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp]
❤️CÂU HỎI SỐ 126. TẠI SAO ĐỨC THẾ TÔN KHÔNG THU THÚC CÁI BỤNG? ❤️❤️
------
Đức vua Mi-lan-đà hỏi tiếp:
- Đức Thế Tôn có dạy rằng: "Này các thầy tỳ khưu! Các thầy nên siêng năng trì bình khất
thực nuôi mạng, chẳng nên giải đãi quên mình; phải nên thu thúc cái bụng, chẳng nên
thọ thực quá độ." Vậy thì việc thu thúc cái bụng quả là rất quan trọng phải không đại
đức?
- Tâu, đúng vậy. Câu Phật ngôn ấy là lời dạy phổ thông không những cho các hàng tỳ
khưu hữu học mà còn cho các bậc Thinh văn, Độc giác và cả đấng Tòan Giác nữa, tâu đại
vương!
- Nó quan trọng đến độ như vậy sao? Nguyên nhân là vì sao, thưa đại đức?
- Bởi vì với cái trí thấy rõ thế gian, Đức Thế Tôn thấy rằng, do nguyên nhân cái bụng mà
chúng sanh giết hại mạng sống của nhau. Vì nguyên nhân vị ngon, ngọt, béo, bùi của
khẩu dục và no đầy cái bụng mà con người cướp đoạt tài sản của nhau. Cũng từ cái bụng
mà sinh ra không biết bao nhiêu tội lỗi, khổ đau; bao nhiêu giới phạm như sát sanh, trộm
cắp, tà hạnh, nói dối, uống rượu, v.v... Thậm chí, có chúng sanh vì cái bụng mà giết cha
mẹ mình, giết hại A-la-hán, chia rẽ Tăng, chích máu Phật... Gương Đề-bà-đạt-đa cũng vì
lợi dưỡng, không thu thúc cái bụng mà hại Phật, phá hoại sự hòa hợp của Tăng-già, đến
nỗi bị quả đất rút, bị lửa địa ngục a-tỳ thiêu đốt đến một kappa!
Tâu đại vương! Các hàng xuất gia nhờ thu thúc cái bụng nên ngăn ngừa được tất cả các
tội lỗi, khổ đau nêu trên. Ngoài ra, nhờ sống đời biết tri túc cái bụng nên họ dễ dàng thấy
rõ Khổ Đế, thấy rõ Tập Đế, thực hành Đạo Đế để thành tựu Diệt Đế là cứu cánh của Samôn hạnh. Lại nữa, không những họ viên thành các Sa-môn quả mà còn dễ dàng chứng
đắc bốn tuệ phân tích, tám định và sáu thần thông...
Lại nữa, tâu đại vương! Lợi ích thù thắng của sự thu thúc cái bụng không những dành
cho con người, các bậc xuất gia phạm hạnh, mà còn cho các loài động vật nữa. Ví như
trong tích truyện tiền thân Phật, có con chim két tên là Suvanna Otaka, thu thúc cái của
bụng mình mà làm cảm động cả thế gian, rung động đến cõi trời Đao-lợi, khiến cho vua
trời Đế thích nóng nảy, ngồi đứng không yên, phải hiện xuống trần gian hộ độ cho chim
két.
Tâu đại vương! Đức Thế Tôn vì thấy rõ nhân quả, ai không thu thúc cái bụng thì sẽ bị
đau khổ; ai thu thúc cái bụng thì được an vui, nên Ngài giáo giới điều ấy là vì xuất phát
từ tâm bi mẫn với hằng muôn sanh loại!
Đức vua Mi-lan-đà gật đầu:
- Quả thật là chí lý khi biết thu thúc cái bụng...! Cái lợi ích của nó thật không ai dám bàn
cãi nữa. Thế nhưng tại sao, một lần nọ, Đức Thế Tôn có nói với tỳ kheo Udàyi rằng: "Này
Udàyi, có khi Như Lai độ vật thực chừng bằng miệng bát, có lúc lại đầy hơn". Đừng nói
rằng cái bát khất thực thời Phật tại tiền nhỏ hơn cái bát bây giờ! Cái bát vào thời nào
cũng có thể làm no hai hoặc ba vị tỳ khưu cả!
Thưa đại đức! Đức Thế Tôn thọ thực như thế là đầy căng cái bụng rồi, chẳng biết thu
thúc cái bụng rồi! Thế mà đại đức dám bảo rằng thu thúc cái bụng là lời giáo giới phổ
thông, không những cho các hàng tỳ khưu hữu học mà còn dành cho các bậc Thinh văn,
Độc giác và cả Tòan Giác nữa. Liệu đại đức sẽ bênh vực ra sao cho Đức Bổn Sư đây?
Hay là đoạn văn kia được kết tập lầm lẫn, ngoại đạo xen câu đó vào để phá hoại niềm tin
của các hàng cận sự nam nữ?
Đại đức Na-tiên mỉm cười:
- Không đâu, chính Đức Thế Tôn có thuyết lời ấy với tỳ kheo Udàyi!
- Thế là đại đức xác nhận rằng Đức Thế Tôn không biết thu thúc cái bụng rồi!
- Tâu Đại vương! Trước khi đả thông vấn đề, bần tăng xin được hỏi đại vương vài điều?
- Vâng, đại đức hãy tùy nghi!
- Thu thúc cái bụng có được lợi ích gì?
- Thưa, để ngăn ngừa tội lỗi, khổ đau; để tiêu diệt phiền não; để thành tựu dễ dàng Samôn quả cùng những năng lực thù thắng khác!
-Đúng vậy - đại đức Na-tiên nói - Thế Đức Thế Tôn đã tiêu diệt khổ đau phiền não ấy
chưa? Ngài đã thành tựu Sa-môn quả, tuệ phân tích và các thần thông thắng trí chưa, thưa
đại vương?
- Dĩ nhiên, Đấng Toàn Giác đã thành tựu trọn vẹn và viên mãn tất cả những điều trên.
- Nói cách khác, Đức Thế Tôn là người đã tiêu diệt tất cả mọi nguyên nhân gây bệnh, là
người không còn bệnh, trái lại là người có sức khỏe rất kiện toàn, phải không đại vương?
- Đúng vậy.
- Người bệnh thì phải uống thuốc, người vô bệnh, sức khỏe hoàn hảo thì có cần uống
thuốc không, hở đại vương?
- Vô bệnh thì uống thuốc làm gì!
Đại đức Na-tiên chợt cười nhẹ:
- Cảm ơn đạivương! Chính Đại vương đã tự "biện hộ" cho Đức Tôn Sư! Đại vương đã
biện hộ rằng "Đức Thế Tôn là người dã tiêu diệt hết phiền não rồi, đã thành tựu trọn vẹn
Sa-môn Quả, tuệ phân tích cùng những năng lực thù thắng khác - nên Ngài thu thúc để
làm gì - như người vô bệnh thì uống thuốc để làm gì!"
- Trẫm hiểu.
- Đại vương đã "biện hộ hơi quá" khi bảo rằng Đức Thế Tôn không cần phải thu thúc -
nhưng thật ra, một đôi khi thôi (appekadà)! Theo ý bần tăng thì Đức Thế Tôn luôn luôn
thu thúc. Vì thật ra, thu thúc hoặc không thu thúc, bao giờ Ngài cũng vắng lặng tham sân,
phiền não, bao giờ Ngài cũng với tâm giải thoát, tuệ giải thoát viên minh, vô thượng! Ví
như ngọc mani không tỳ vết, ánh sáng rực rỡ, hào quang chói lọi... thì ai lại mất công vô
ích khi ngồi cặm cụi mà lau chùi, mài giũa, đánh bóng, phải vậy không đại vương?
- Vâng - đức vua Mi-lan-đà gật đầu - Trẫm rất bằng lòng và hoan hỷ về lời giải đáp của đại đức. Đối với bậc đã giải thóat, vô nhiễm rồi thì họ không còn bị ràng buộc bởi sự thu
thúc hoặc không thu thúc ấy nữa. Tuyệt diệu lắm!
* * * *
[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp - Thầy Thích Trúc Thái Minh thuyết giảng]
💁Quý đồng đạo quan tâm hãy cùng lắng nghe hết video dưới đây ạ!👇👇👇





[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp]❤️CÂU HỎI SỐ 125. ĐỜI SỐNG SA-MÔN VÔ TRU, NHƯ NAI TRONG RỪNG, SAO LẠI XÂY CHÙA, TẠO THẤT LIÊU?  ❤️...
29/01/2026

[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp]
❤️CÂU HỎI SỐ 125. ĐỜI SỐNG SA-MÔN VÔ TRU, NHƯ NAI TRONG RỪNG, SAO LẠI XÂY CHÙA, TẠO THẤT LIÊU? ❤️❤️
------
- Đại đức vừa nói là các bậc xuất gia sống đời vô trú, không nên có chỗ ở nhất định,
không nên lưu luyến chỗ ở, nên sống nơi thanh vắng, v.v... Đấy cũng là điều Đức Phật
thường khuyên răn, giáo giới đến các bậc xuất gia, phải vậy chăng?
- Thưa vâng!
- Thế tại sao, ở chỗ khác, Đức Tôn Sư lại thuyết: "Các hàng thí chủ nên tạo chùa, thất
liêu để cho Chư Tăng có chỗ ngụ cư an vui, dễ dàng, vì họ là những bậc đa văn, những
bậc nâng đỡ Tam Tạng, những bậc làm cho giáo pháp được hưng thịnh, trường tồn..."?
Đức Đạo Sư đã thuyết lưỡng nghĩa, hai lời, nếu chỗ trên đúng thì chỗ dưới sai hoặc trái
lại! Vậy biết đâu là lời giáo giới đúng đắn, chân chính của Đức Đạo Sư?
- Đức Thế Tôn chẳng bao giờ thuyết hai lời, lưỡng nghĩa, mâu thuẫn nhau đâu, tâu đại
vương! Trong giáo hội của Đức Tôn Sư, Ngài cho phép Chư Tăng tùy duyên, tùy sở thích
mà chọn chỗ ngụ cư cho mình; không nhất thiết là rừng, nghĩa địa, chùa hay thất liêu.
Ngài chưa hề cấm Chư Tăng sống ở chùa, thất liêu hoặc khuyến khích nên sống ở rừng
hay nghĩa địa. Vấn đề quan trọng là sống sao để khỏi dính mắc, lưu luyến chỗ ở của
mình; phải thường xuyên thay đổi từ chỗ này sang chỗ khác. Chính đời sống không dính
mắc, không lưu luyến mới là phải lẽ cho Sa-môn, nghiêm trang cho Sa-môn, thích hợp
với Sa-môn, là cảnh giới của Sa-môn, nên dành cho Sa-môn, là nơi mong mỏi của Samôn.
Tâu đại vương! Ví như loài hươu nai sống ở trong rừng, chúng tự do, thảnh thơi đi từ chỗ
này sang chỗ khác, không nhất định ở một nơi nào cả, hoàn toàn theo ý muốn, sở thích
của mình, chư tỳ kheo cũng nên sống đời vô trú như hươu nai vậy.
Tâu đại vương! Còn vấn đề xây dựng chỗ ở, tạo chùa chiền, am thất cho Chư Tăng mà
Đức Phật thường tán thán là vì lợi ích cho giáo pháp, lợi ích cho hàng cư sĩ tại gia. Công
đức, phước báu xây dựng cảnh già lam cho Chư Tăng có chỗ ngụ cư dễ dàng để tu học
thật là vô biên vô lượng, là nhân sanh cảnh trời, cảnh người phú túc và sang cả. Ngoài ra,
đó còn là nhân để thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, chứng quả Niết bàn Vô sanh.
Lại nữa, tâu đại vương! Nếu mà chư tỳ khưu đều sống ở rừng, nghĩa địa, nơi hoang sơn
cùng cốc; ai cũng lìa xa nơi phố thị, làng mạc cả thì cận sự nam nữ hai hàng lấy đâu để
nghe giáo pháp, để thọ trì quy giới, để cúng dường, bố thí, để tạo phước báu, để tăng
trưởng tín, giới, văn, thí, tuệ cho mình?
Lại nữa, tâu đại vương! Nếu không có chùa chiền, am thất thì vua chúa, các vị đại thần,
thương gia, các giáo chủ bà-la-môn, những người có tâm cầu mong thấu hiểu giáo pháp
sẽ biết tìm đến đâu để học hỏi, trao đổi, thảo luận? Những người muốn tu sẽ tìm đến nơi
nào để tu? Và Chư Tăng làm sao để học hỏi giáo pháp, phổ biến giáo pháp, kế tục giáo
pháp để lưu hậu, truyền thừa?
Đại vương! Dám mong đại vương giải đáp dùm cho những câu hỏi ấy của bần tăng!
- Vâng, trẫm không dám nữa đâu! Sở dĩ mà trẫm còn nghe được giáo pháp hôm nay là
cũng nhờ có cảnh già lam mà cận sự nam nữ đã dày công kiến tạo!
- Cám ơn đại vương!
- Trẫm không ngờ một câu hỏi bắt bí bình thường - mà lối giải đáp của đại đức lại sâu xa,
vi diệu như thế! Ôi! Một câu hỏi tưởng như khó khăn, mà đại đức đã tháo gỡ rất dễ dàng!
Ôi! Đại đức đã làm cho phân minh, sáng sủa những điều tối tăm, đã bẻ gãy vỡ vụn những
luận điệu mà chúng ngoại đạo có thể xuyên tạc trong nay mai! Quả thật, đại đức đã đem
đến ở đây một con mắt của chư Phật để soi tỏ, nhìn ngắm mọi vấn đề, vì lợi ích cho vô
lượng nhân thiên trong thời mạt pháp vậy!
* * * *
[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp - Thầy Thích Trúc Thái Minh thuyết giảng]
💁Quý đồng đạo quan tâm hãy cùng lắng nghe hết video dưới đây ạ!👇👇👇





Đời Sống Sa-môn Vô Trú, Như Nai Trong Rừng, Sao Lại Xây Chùa, Tạo Thất Liêu? | Kinh Mi Tiên Vấn Đáp Câu 125Giảng sư: Thầy Thích Trúc Thái Minh===➡️ Nếu quan ...

[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp]❤️CÂU HỎI SỐ 124. PHẨM MẠO XUẤT GIA CAO SIÊU ĐẾN CỠ NÀO ?❤️❤️------Đức vua Mi-lan-đà lại hỏi: - Th...
29/01/2026

[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp]
❤️CÂU HỎI SỐ 124. PHẨM MẠO XUẤT GIA CAO SIÊU ĐẾN CỠ NÀO ?❤️❤️
------
Đức vua Mi-lan-đà lại hỏi:
- Thưa đại đức! Trước đây trẫm có cơ duyên hầu chuyện với trưởng lão Àyupala, được
biết rằng, bậc xuất gia hay người tại gia đều có thể đắc quả cao thượng giống nhau. Mà
chính Đức Tôn Sư cũng có thuyết như thế. Điều này trẫm còn có chỗ hoài nghi.
- Xin đại vương cứ nói.
- Thưa, người tại gia thọ dụng ái dục, ăn mặc bằng những y phục màu trắng có thêu hoa,
nằm ngủ với vợ, mưu sinh bằng đủ mọi cách để nuôi vợ con; họ nhồi phấn, thoa vật
thơm, trang sức, trang điểm mỹ lệ, chải chuốt mái tóc cho láng lẩy, gom góp tài vật đủ
loại... Nghĩa là họ hưởng thụ dục lạc một cách đầy đủ, thỏa mãn...
Còn các bậc xuất gia phải cạo bỏ râu tóc, mặc những thứ vải thô, xấu, lại còn phải nhuộm
nước chát cho ố màu đi. Họ còn phải thọ trì nghiêm khắc hai trăm hai mươi bảy giáo
điều, mười ba pháp đầu đà khổ hạnh... Nghĩa là họ phải có một đời sống cơ cực, thiếu
thốn đủ mọi bề...
Đại đức Na-tiên nói:
- Đúng như thế. Nhưng đại vương nghi ở chỗ nào?
- Thưa, thứ nhất là ai thực hành giáo pháp tốt cũng đắc đạo quả cao siêu. Vậy thì dại gì đi
tu cho khổ, cho cơ cực, thà ở nhà hưởng thọ ngũ dục còn hơn vậy?
- Tâu đại vương! Sự thật là thế, nhưng người tại gia thực hành giáo pháp khó khăn hơn
nhiều. Có thể nào một người cư sĩ thọ dụng ngũ dục, sống giữa cõi trần luôn luôn bị lửa
tham sân thiêu đốt lại có thể chứng ngộ giáo pháp ly dục cao siêu được, hở đại vương?
- À ra thế!
- Còn các bậc xuất gia, do nhờ ghép mình vào các điều học, thọ mười ba pháp đầu đà, thu
thúc lục căn thanh tịnh; nghĩa là luôn luôn sống đời lánh xa ngũ trần, tham sân ít có cơ
hội thiêu đốt; nên bao giờ cũng dễ dàng chứng ngộ được giáo pháp ly dục, tâu đại vương!
- Vâng, vâng!
-Tuy nhiên, dẫu là xuất gia, nhưng họ buông lung phóng dật, không chịu thực hành
những đề mục chỉ tịnh, quán minh - thì làm sao mà thấy được đạo quả hở đại vương?
- Vâng, vâng!
- Do vậy, phẩm mạo xuất gia hay tại gia quan trọng ở chỗ thực hành và không thực hành,
tâu đại vương!
- Vâng! Và như vậy rõ ràng là bậc xuất gia vẫn cao thượng hơn tại gia! Nhưng trẫm
không rõ là nó cao thượng đến cỡ nào?
- Không ai có thể định giá được ngọc ma-ni, tức ngọc như ý như thế nào, thì sự cao
thượng của phẩm mạo xuất gia cũng y như thế, cái đức của bậc xuất gia cũng dường thế
ấy!
- Các vị tỳ kheo trong giáo hội của đại đức thường giáo giới đến cận sự nam nữ hai hàng
rằng đức của Chư Tăng như biển lớn, là ý đó chăng?
- Vâng, vì rằng biển rộng và sâu đến chừng nào thì chưa có ai đo lường được; thì sự cao
thượng, cao siêu của phẩm mạo xuất gia cũng như biển vậy, khó lượng, khó dò!
- Thưa, vậy thì do đâu mà có được cái đức ấy, sự cao siêu, cao thượng ấy?
Đại đức Na-tiên nói:
- Dường như do đâu thì đại vương đã hiểu rồi.
- Xin đại đức cứ nói lại, có phải là do nhờ đời sống ghép mình vào giới hạnh?
- Vâng, sự thành tựu cao siêu ấy, thành tựu các đức lớn ấy là do đời sống viễn ly của chư
tỳ khưu, chẳng hạn:
- Thiểu dục (ít ham muốn),
- Tri túc,
- Ưa thích nơi thanh vắng,
- Không thích đám đông, phe nhóm,
- Không chất chứa, không luyến tiếc,
- Sống đời vô trú,
- Đầy đủ giới hạnh,
- Biết rành rẽ giá trị, sự lợi ích trong việc thực hành các pháp đầu đà, v.v...
Tâu đại vương! Khi mà bậc xuất gia thực hành nghiêm túc các điều như đã kể ở trên, họ
sẽ thành tựu đạo quả cao siêu rất dễ dàng, mau lẹ...; cũng giống như người kia xuống
sông tắm, dễ dàng và mau lẹ kỳ cọ thân thể mình cho sạch sẽ vậy.
- Thật là rõ ràng, trẫm hiểu được do đâu mà cao thượng rồi.
* * * *
[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp - Thầy Thích Trúc Thái Minh thuyết giảng]
💁Quý đồng đạo quan tâm hãy cùng lắng nghe hết video dưới đây ạ!👇👇👇





Phẩm Mạo Xuất Gia Cao Siêu Đến Cỡ Nào? | Kinh Mi Tiên Vấn Đáp Câu 124 | Thầy Thích Trúc Thái Minh---➡️ Nếu quan tâm đến những tin tức, hoạt động Phật sự của ...

[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp]❤️CÂU HỎI SỐ 122-123. ĐỨC THẾ TÔN CÒN BẤT BÌNH, SÂN HẬN! PHẢI CHĂNG ĐỨC THẾ TÔN KHÔNG CÓ TÂM BI MẪ...
29/01/2026

[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp]
❤️CÂU HỎI SỐ 122-123. ĐỨC THẾ TÔN CÒN BẤT BÌNH, SÂN HẬN! PHẢI CHĂNG ĐỨC THẾ TÔN KHÔNG CÓ TÂM BI MẪN? ❤️❤️
------
122. ĐỨC THẾ TÔN CÒN BẤT BÌNH, SÂN HẬN!
- Đức Thế Tôn chắc hẳn không còn sân hận, bất bình, phải không đại đức?
- Tâu, vâng!
- Thế sao có lần khi Đức Xá-lợi-phất và Đức Mục-kiền-liên dẫn năm trăm đệ tử đến hầu
thăm Đức Thế Tôn; vì nhóm đệ tử ấy vừa mới xuất gia, thân khẩu ý chưa được kiểm soát,
còn rất thô tháo nên đã tạo nên sự ồn ào, huyên náo... Đang độc cư thiền định, nghe thế,
Đức Thế Tôn đã không chịu nổi, bảo Ngài Ànanda đuổi họ đi! Hành động ấy không phải
do bất bình, sân hận là gì? Đuổi mà đuổi cả hai vị đại đệ tử, hai bậc thượng thủ của giáo
hội thì đâu phải là chuyện bình thường? Đâu phải chuyện nói mà chơi? Đâu phải đuổi thế
mà bảo là không bất bình, nổi sân một chút nào? Hay là Đức Thế Tôn đã đuổi bằng tâm
từ ái, hoan hỷ? Có lẽ vậy mới phải lý, phải lẽ, phải nhân, phải quả chăng?
- Tâu đại vương! Có khi nào đại vương thấy quả đất có tâm bất bình, sân hận? Hoặc giả
quả đất có tâm thương yêu hay thù oán chăng?
- Dĩ nhiên là không thể có.
- Vậy, ví như có người đi trên đất, bị té trên đất, gặp đá bị sưng đầu, vỡ trán - thì do
người ấy bất cẩn hay do đất tạo tội hở đại vương?
- Chỉ tại người ấy chứ quả đất nào có tội gì!
- Tâm Đức Thế Tôn cũng an nhiên, bình lặng, không hoan hỷ, không thù oán, không bất
bình, không hận, không thương, không ghét - ví như quả đất vậy. Người kia bất cẩn bị té
sưng đầu, vỡ trán như thế nào thì năm trăm tỳ khưu có tội bị Đức Phật đuổi đi cũng như
thế ấy, tâu đại vương!
- Ví dụ ấy không tương hợp rồi, thưa đại đức! Quả đất không khởi tâm, Đức Phật có khởi
tâm, làm sao có thể giống nhau được?
- Tâu đại vương! Ngài phải hiểu rằng Đức Thế Tôn thường trú tâm xả. Tâm xả ấy thường
bình lặng và an nhiên như quả đất vậy. Còn khi mà Đức Thế Tôn có khởi tâm - là khởi
tâm muốn tế độ chúng sanh. Ngài đuổi họ là vì lợi ích cho họ chứ đâu phải do sân hận hoặc bất bình?
Ví như biển lớn không bao giờ dung chứa tử thi dù hàng trăm hằng ngàn tử thi bồng bềnh
trôi nổi giữa đại dương, sóng cũng tìm cách đánh dạt những tử thi ấy vào bờ cho bằng
được! Biển không hề có tâm hận, tâm hỷ, thương hoặc ghét như thế nào - thì Đức Thế
Tôn khi đuổi năm trăm tỳ khưu vì hạnh động sái quấy của họ - cũng y như thế ấy.
- Vâng, nhưng nghe nói rằng, sau đó, Phạm thiên Sahampati và những người Thích tử đã
đến qùy lạy xin Đức Thế Tôn đừng đuổi họ nữa.
- Quả vậy, nhờ thế, sau đó họ biết chăm chú nghe Pháp, tinh tấn thiền quán và năm trăm
tỳ khưu kia đã đắc Thánh quả cả.
- Ồ! Hy hữu vậy thay. Còn trường hợp hai vị thượng thủ thì sao?
- Hai ngài Đại Đệ tử từ rày phải ý thức thêm trách nhiệm của mình: là phải tìm cách giáo
giới nghiêm túc những kẻ sơ tu hơn nữa!
- Vâng, vậy thì trẫm không còn ngờ oan về tâm sân của Đức Thế Tôn nữa. Nhưng như
vậy không có nghĩa là không còn mối nghi khác trong câu chuyện này.
Đại đức Na-tiên nói:
- Thôi được rồi, hẹn đại vương hôm khác.
* * *
123. PHẢI CHĂNG ĐỨC THẾ TÔN KHÔNG CÓ TÂM BI MẪN?
Đức vua Mi-lan-đà lại hỏi tiếp:
- Đồng ý là Đức Thế Tôn không có tâm sân hận, bất bình rồi; nhưng người ta có thể nghĩ
rằng Ngài không có tâm bi mẫn, thưa đại đức.
- Tại sao đại vương lại nói thế?
- Có chứng cớ hẳn hòi, thưa đại đức. Trẫm còn nhớ, khi Đức Thế Tôn đuổi hai vị thượng
thủ cùng năm trăm vị tỷ kheo, thì đại phạm thiên Sahampati và các Thích tử ở Càtuma đã
lần lượt đến quỳ bên chân Đức Đạo Sư để năn nỉ, xin xỏ cho họ được ở lại. Họ đã nói
rằng, năm trăm tỳ kheo ấy còn non dại, chưa biết gì, thật là tội nghiệp. Họ đã ví von
rằng, như hạt mầm non trẻ, nếu thiếu nước, thiếu ánh sáng, thiếu đất tốt thì nó sẽ dần dần
bị tiêu hoại; như những con nghé con, nếu thiếu bú mớm, thiếu chăm sóc, nuôi dưỡng thì
những nghé con kia sẽ chết; và cũng vậy, năm trăm tỳ kheo kia mới sơ tu, họ cần phải
được yết kiến Đức Thế Tôn, cần được nghe Pháp, dạy dỗ..., may ra họ mới được trưởng
thành, lớn khôn trong Giáo Pháp của bậc Thánh! Sau đó, họ xin Đức Thế Tôn khởi lòng
bi mẫn xót thương cho năm trăm vị tỷ kheo. Thưa đại đức, điều ấy chứng tỏ gì? Chứng tỏ
rằng Đức Thế Tôn không có tâm bi mẫn, mà chính vị đại phạm thiên Sahampati và các
Thích tử ở Càtuma mới có tâm bi mẫn!
- Tâu đại vương! Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài là thầy của chư
thiên và loài người, Ngài đã dạy giáo pháp cho chư thiên và loài người. Vậy thì cái tâm
bi mẫn của phạm thiên Sahampati và các Thích tử ở Càtuma, họ học được từ đâu?
- Dĩ nhiên là họ học được từ Đức Thế Tôn.
- Đúng vậy. Họ học được tâm bi mẫn của Đức Thế Tôn, thế sao đại vương dám bảo Đức
Thế Tôn không có tâm bi mẫn?
- Khi ấy có lẽ Đức Thế Tôn đã quên tâm bi mẫn của mình, đợi đến khi Đại phạm thiên
Sahampati và các Thích tử Càtuna nhắc lại, Ngài mới nhớ chăng?
Đại đức Na-tiên bèn đưa ra ví dụ:
- Ví như có một người chồng vì thương vợ, bèn sắm đầy đủ các loại ngọc quý cho vợ
trang sức. Lâu lâu, người vợ muốn làm vui lòng chồng, lấy đồ trang sức ấy trang điểm
cho mình. Thấy vậy, người chồng có vui tươi, hoan hỷ không hở đại vương?
- Dĩ nhiên là phải vui chứ!
- Cũng như thế đó, đại vương! Tâm bi mẫn ấy do Đức Thế Tôn giáo huấn, dạy dỗ; và rất
nhiều pháp khác nữa, Đại phạm thiên Sahampati và các Thích tử ở Càtuma học được từ
Đức Thế Tôn. Lâu lâu, họ lấy giáo pháp ấy nói lại, trang điểm cho mình, làm cho Đức
Thế Tôn cũng hoan hỷ, Ngài phải thốt lên rằng: "Sàdhu, lành thay!".
- Hay lắm!
- Lại nữa, ví như có người cận thần thân tín của đức vua, vào kho của đức vua lấy những
ngọc ngà châu báu, những vòng kim cương, lưu ly để trang điểm ngai vàng cho đức vua,
những mong cho đức vua thỏa thích, vừa dạ. Đại phạm thiên Sahampati và các Thích tử ở
Càtuma cũng lấy giáo pháp của Đức Thế Tôn, những đoản ngôn, những ví dụ của Đức
Thế Tôn... để nói lại - thì đâu có khác gì vị cận thần thân tín kia của đức vua?
- Vâng, hay lắm!
- Lại nữa, ví như có người học trò hầu hạ một vị hòa thượng, thường đem những lời hay ý
đẹp mà vị hòa thượng ấy từng dạy bảo, nói lại cho hòa thượng nghe, làm cho vị hòa
thượng vô cùng hoan hỷ, đẹp dạ. Đức Thế Tôn nghe lại giáo pháp của ngài do từ miệng
của Đại phạm thiên Sahampati và các Thích tử thì cũng vừa lòng đẹp dạ như vậy đó, tâu
đại vương!
Đức vua Mi-lan-đà bất giác mỉm cười:
- Đại đức bênh vực cho Đức Đạo Sư thật là hùng hồn; biết là có cái gì đó không được
đúng lắm, nhưng trẫm cũng không biết y cứ từ kẻ hở nào mà tranh luận!
Đại đức Na-tiên cũng mỉm cười:
- Khi mà đấng Minh quân đã nói vậy thì rõ là không có chỗ nào sai sự thật rồi!
- Có lẽ vậy, cảm ơn đại đức!
* * * *
[Kinh Mi Tiên Vấn Đáp - Thầy Thích Trúc Thái Minh thuyết giảng]
💁Quý đồng đạo quan tâm hãy cùng lắng nghe hết video dưới đây ạ!👇👇👇





Đức Thế Tôn Còn Bất Bình, Sân Hận! Phải Chăng Đức Thế Tôn Không Có Tâm Bi Mẫn?| Kinh Mi Tiên Vấn Đáp Câu 122 - 123Giảng sư: Thầy Thích Trúc Thái Minh===➡️ Nế...

Address

Tỉnh Vĩnh Long

Opening Hours

Monday 08:00 - 20:00
Tuesday 08:00 - 20:00
Wednesday 08:00 - 20:00
Thursday 08:00 - 20:00
Friday 08:00 - 20:00
Saturday 08:00 - 20:00
Sunday 08:00 - 20:00

Telephone

+84932909596

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Học lời Phật dạy posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Học lời Phật dạy:

Share