Chi hội phụ nữ khu phố Phú Hoà phường Hoà Lợi

Chi hội phụ nữ khu phố Phú Hoà phường Hoà Lợi Phụ nữ khu phố Phú Hoà phường Hoà Lợi đoàn kết - sáng tạo - năng động - phát triển

07/08/2025
09/03/2025
09/03/2025

Đập tan âm mưu chia rẽ dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định công tác tôn giáo, dân tộc là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc là chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta. Mọi âm mưu, thủ đoạn và những lời lẽ xuyên tạc nhằm chia rẽ dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam đều phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Đập tan âm mưu chia rẽ dân tộc

Thời gian gần đây, bất chấp những nỗ lực thực hiện và thành quả vượt bậc trong xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch vẫn ra sức xuyên tạc, chống phá bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn.

Chúng cho rằng, Nhà nước hầu như không, hoặc rất ít quan tâm, dẫn đến đồng bào dân tộc thiểu số bị thiệt thòi, khi về chính trị thì đồng bào không có bình đẳng, tiếng nói để “bảo vệ” mình. Về kinh tế, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ít được “đầu tư”, nên cuộc sống đồng bào ngày càng khó khăn, bà con không có tư liệu sản xuất, buộc phải “nhượng” đất cho người Kinh, tiếp tục mưu sinh bằng cách phá rừng. Về văn hóa, chúng rêu rao rằng, do bị “đồng hóa” văn hóa người Kinh, khiến các tộc người mất đi bản sắc truyền thống vốn có. Về xã hội, thể trạng, học vấn, điều kiện phát triển của đồng bào dân tộc so với người Kinh có khoảng cách ngày càng lớn.

Chúng ra sức kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc với nhau, giữa đồng bào dân tộc thiểu số với hệ thống chính trị, biểu hiện bằng việc đồng bào bị lôi kéo tham gia các cuộc biểu tình, bạo loạn, tạo ra các điểm nóng chính trị.

Những luận điệu trên hoàn toàn bịa đặt, bởi thực tiễn đã chứng minh, từ năm 1930 đến nay, Đảng ta đã luôn nhất quán quan điểm: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển.

Đặc biệt, trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ năm 1986, vấn đề dân tộc tiếp tục được quan tâm, ưu tiên thực hiện thông qua một số nghị quyết, như: Nghị quyết số 22-NQ/TƯ ngày 27-11-1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi; Nghị quyết số 24-NQ/TƯ ngày 12-3-2003 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc...

Đến Đại hội XIII (2021), Đảng ta khẳng định chủ trương về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc cho giai đoạn 2021-2025 là: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các chính sách đặc thù giải quyết những khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số. Tạo sinh kế, việc làm, định canh, định cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Tập trung triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030. Bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc thiểu số có dưới 10.000 người, đặc biệt là những dân tộc thiểu số có nguy cơ suy giảm giống nòi”.

Cùng với đó, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết, nghị định, thông tư về công tác dân tộc, như: Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18-11-2019 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19-6-2020 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14-1-2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, quy định rõ các nguyên tắc cơ bản trong “Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển; bảo đảm và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số”; Quyết định số 66/2013/QĐ-TTg ngày 11-11-2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ chi phí học tập đối với sinh viên là người dân tộc thiểu số học tại các cơ sở giáo dục đại học…

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số phát triển đúng hướng và có chuyển biến mạnh. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, bình quân giảm 4%/năm; riêng các xã đặc biệt khó khăn giảm hơn 4%/năm; các huyện nghèo giảm khoảng 5-6%/năm. Đặc biệt, một số địa phương đã có các mô hình triển khai có hiệu quả, như: Tỉnh Lâm Đồng có những mô hình “Nhiều người giúp một người” (xã Hòa Nam, huyện Di Linh); “Giúp nhau giảm nghèo nhanh, bền vững” (xã Tà Năng, huyện Đức Trọng); phát triển kinh tế hộ sản xuất (xã B’Lá, huyện Bảo Lâm). Tỉnh Hòa Bình có mô hình khởi nghiệp trong “Liên kết phát triển trồng và sản xuất các sản phẩm của cây sachi (huyện Đà Bắc). Tỉnh Bình Phước có mô hình hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị, bền vững từ đầu vào, sản xuất hữu cơ và tiêu thụ sản phẩm hạt điều tại các huyện Bù Đăng và Bù Gia Mập…

Đặc biệt, hệ thống chính trị được củng cố vững mạnh, vai trò và việc tham gia vào bộ máy chính quyền cũng như những đóng góp vào đời sống xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được bảo đảm.

Đó là những minh chứng rõ nét bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về chính sách dân tộc và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam.

Bác bỏ những luận điệu chia rẽ tôn giáo

Do định kiến với Việt Nam, các thế lực phản động, thù địch ở trong nước và ngoài nước, trong đó có Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) bất chấp những thành tựu của Việt Nam trong nỗ lực bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, xuyên tạc trắng trợn về tình hình tôn giáo tại Việt Nam. USCIRF thường xuyên sử dụng thông tin, tài liệu cũ, không chính xác từ các nhóm, phái tôn giáo chưa được Nhà nước Việt Nam công nhận cùng số chức sắc cực đoan bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng, Nhà nước để đưa vào các báo cáo thường niên về tự do tôn giáo toàn cầu, phê phán việc thực hiện quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam và khuyến nghị Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo.

Họ tự cho mình quyền được khuyến khích, cổ vũ các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không cần xin phép, đăng ký với chính quyền, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ” ở các vùng sâu, vùng xa, gia tăng hoạt động mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, gây bức xúc trong xã hội và nhân dân. Họ xuyên tạc rằng “cả Hiến pháp và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đều có những quy định nhằm hạn chế quyền tự do tôn giáo”.

Họ cho rằng “Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam gồm các điều khoản mơ hồ cho phép tự do tôn giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn giáo”, không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”. Họ lợi dụng triệt để quan điểm “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật” để cho rằng “tự do tôn giáo của Việt Nam chỉ là hình thức”. Họ dựa vào việc các tổ chức đội lốt tôn giáo, có những hoạt động vi phạm pháp luật, như: Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình (Tây Bắc), Hà Mòn (Tây Nguyên), tịnh thất Bồng Lai (Long An)… bị chính quyền xử lý để vu khống Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo, cấm đoán tôn giáo, đàn áp tôn giáo”…

Tuy nhiên, thực tiễn sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam hoàn toàn khác xa với những nhận định thiếu khách quan, mang tính định kiến, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được pháp luật thừa nhận và thực thi trong thực tế; không có chuyện Nhà nước hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân và cũng không có chuyện “đàn áp tôn giáo”.

Điều này được thể hiện từ rất sớm, ngày 3-9-1945, chủ trì phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời bàn về sáu vấn đề cấp bách, trong đó có vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết”.

Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký hai sắc lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm Sắc lệnh số 35/SL, ngày 20-9-1945, quy định “Đền chùa, lăng tẩm, nhà thờ, tất cả các nơi có tính cách tôn giáo, bất cứ tôn giáo nào, nhân dân đều phải tôn trọng không được xâm phạm” và Sắc lệnh số 65/SL, ngày 23-11-1945, ấn định nhiệm vụ cho Đông phương Bác Cổ học viện nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tịch trong toàn cõi Việt Nam.

Tiếp nối Sắc lệnh số 35/SL và Sắc lệnh số 65/SL, đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hơn 30 văn bản về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đáp ứng nhu cầu về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Để khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam ở tính pháp lý cao nhất, kể từ khi Quốc hội được thành lập đến nay, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân đã được khẳng định tại 5 bản Hiến pháp, bao gồm Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013.

Đặc biệt, tại kỳ họp thứ hai, khóa XIV, ngày 18-11-2016, Quốc hội đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (có hiệu lực từ năm 2018). Đây là sự cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về các điều, khoản quy định về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Nhờ có chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo ngày càng được hoàn thiện và được thực hiện nhất quán trong thực tiễn, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng phong phú; số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng được bảo đảm tốt hơn.

Nếu năm 2003, cả nước có 15 tổ chức thuộc 6 tôn giáo với 17 triệu tín đồ, khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc, thì đến tháng 5-2024, Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với trên 27 triệu đồng bào theo đạo (chiếm hơn 27% dân số cả nước), trong đó, có trên 54.000 chức sắc, 135.500 chức việc; trên 29.600 cơ sở thờ tự tôn giáo và khoảng trên 54.000 cơ sở tín ngưỡng.

Nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo thu hút hàng vạn tín đồ, nhân dân tham dự, như: Tháng 12-2017, Giáo hội Tin lành tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành; tháng 7-2019, Giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Đa Minh thế giới tại Đồng Nai, với đại biểu của hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia; Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức thành công 3 Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc (năm 2008, 2014, 2019). Đặc biệt, Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc 2025 do Ủy ban tổ chức quốc tế Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc (ICDV), Giáo hội Phật giáo Việt Nam đồng tổ chức. Đây là lần thứ tư Việt Nam đăng cai tổ chức Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc. Dự kiến, 80 quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc 2025 tại Việt Nam.

Thực tiễn đó khẳng định, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam những năm qua là đa dạng, sôi động và phong phú, không chỉ nhân dân trong nước, trong đó có tín đồ các tôn giáo ghi nhận, mà còn được cả cộng đồng quốc tế thừa nhận. Do vậy, những nhận định thiếu khách quan, không đúng với thực tế tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam sẽ không bao giờ có giá trị, cần phải phê phán, bác bỏ./.

Báo Hà Nội mới

04/03/2025
Chị Hội Phụ Nữ KP Phú Hòa Phường Hòa Lợi Hưởng Ứng Tuần Lễ Áo Dài Từ  Ngày 01/3_ 08/3/2025
02/03/2025

Chị Hội Phụ Nữ KP Phú Hòa Phường Hòa Lợi Hưởng Ứng Tuần Lễ Áo Dài Từ Ngày 01/3_ 08/3/2025

28/02/2025
28/02/2025

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Bộ Y tế

Nhân dịp Kỷ niệm 70 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 - 27/2/2025), sáng 24/2, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm đã thăm, làm việc và phát biểu với Bộ Y tế về kết quả thực hiện công tác y tế trong thời gian qua và phương hướng, nhiệm vụ thời gian tới.

"Thưa các đồng chí trong đoàn công tác Trung ương,
Thưa các đồng chí Lãnh đạo Bộ Y tế,
Thưa các Thầy thuốc, các giáo sư, bác sĩ, cán bộ, nhân viên ngành y tế và các đồng chí đại biểu tham dự buổi làm việc.

Cách đây 70 năm, ngày 27/2/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho ngành y tế với những lời căn dặn vô cùng sâu sắc. Bác dặn cán bộ ngành y phải thấm nhuần câu nói “Lương y phải như từ mẫu” và yêu cầu Chính phủ “Xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta”, “phải dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc và đại chúng”... Từ đó, ngày 27/2 trở thành Ngày Thầy thuốc Việt Nam. Những lời dạy của Bác Hồ đã trở thành kim chỉ nam hành động cho các nhà lãnh đạo, cho các thế hệ thầy thuốc và là phương châm xuyên suốt của toàn ngành y tế trong bảy thập kỷ qua.

Trải qua chặng đường 70 năm xây dựng, lao động, cống hiến và trưởng thành, ngành y tế Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày một cao hơn về chăm sóc y tế, khám chữa bệnh cho người dân. Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế của Liên hợp quốc, với nhiều chỉ số về hệ thống y tế và sức khỏe cộng đồng vượt trội so với nhiều quốc gia có cùng mức phát triển. Hệ thống y tế nước ta đã không ngừng được củng cố, mở rộng từ Trung ương tới địa phương; từ đô thị tới các vùng rừng núi, hải đảo, vùng khó khăn, xa xôi hẻo lánh. Trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu, khả năng thực hành của đội ngũ y bác sĩ ngày càng nâng cao bên cạnh các máy móc, trang thiết bị y tế, thuốc men ngày một hiện đại, tiên tiến. Năng lực y tế của chúng ta hiện nay không chỉ đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân mà còn góp phần quan trọng vào sự phát triển của y học thế giới. Ngành y tế Việt Nam đang ngày càng khẳng định vai trò trong việc chung tay giải quyết những thách thức y tế mang tính toàn cầu.

Những đóng góp to lớn của ngành y tế trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân và sự phát triển đất nước đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng những phần thưởng cao quý. Hàng nghìn thầy thuốc đã được tôn vinh với danh hiệu Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, Chiến sĩ Thi đua toàn quốc, Thầy thuốc Nhân dân, Nhà giáo Nhân dân, Thầy thuốc Ưu tú, Nhà giáo Ưu tú... Cùng với những danh hiệu cao quý ấy, điều quan trọng nhất chính là sự tin yêu và lòng biết ơn của nhân dân đối với đội ngũ thầy thuốc, những người đã không ngại khó khăn, gian khổ, tận hiến cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Không phải ngẫu nhiên mà xã hội dành từ “Thầy”, từ “Mẫu” đối với những người cống hiến cho ngành y.

Thưa các đồng chí,

Nhìn lại lịch sử y học Việt Nam, chúng ta có thể khẳng định y học dân tộc gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước. Ngay từ thời Hùng Vương, người Việt đã sử dụng thảo dược, châm cứu và các phương pháp dân gian để chữa bệnh. Thời Lý- Trần đã thành lập Thái Y viện để chữa trị bệnh và nghiên cứu y học. Danh y Tuệ Tĩnh (Thế kỷ XIV) là người đặt nền móng cho cho nền y học dân tộc với triết lý “Nam dược trị Nam nhân”, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (Thế kỷ XVIII) đã lừng danh với “Lĩnh Nam bản thảo” và “Y tông tâm lĩnh”. Thời cận đại, chúng ta có Viện Pasteur Sài Gòn (1891), Viện Pasteur Nha Trang (1895) Bệnh viện Chợ Rẫy (1900), Nhà thương bảo hộ - Bệnh viện Việt Đức (1904) Bệnh viện Bạch Mai (1911)...

Ngành y tế Việt Nam hiện đại được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong những năm tháng gian lao của đất nước. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và sau đó là kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn cam go, đội ngũ thầy thuốc đã trở thành những người chiến sỹ trên mặt trận cứu chữa thương binh, bệnh binh và nạn nhân chiến tranh. Trong hoàn cảnh thiếu thốn đủ bề, các bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng viên đã lập nên những bệnh viện dã chiến ngay giữa rừng sâu, trong hang động, dưới hầm trú ẩn và những nơi ác liệt nhất. Nhiều tấm gương y bác sĩ thời chiến đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần bất khuất và trí tuệ Việt Nam. Bác sĩ Đặng Văn Ngữ, người đã hy sinh trên đường ra chiến trường nghiên cứu thuốc chống sốt rét cho bộ đội. Giáo sư, Bác sĩ Tôn Thất Tùng với phương pháp phẫu thuật gan nổi tiếng đã cứu sống hàng nghìn thương binh. Liệt sĩ, Bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã trở thành biểu tượng và niềm tự hào của một thế hệ cầm súng vào giai đoạn lịch sử không thể nào quên của dân tộc. Những hình ảnh bác sĩ, y tá cõng thương binh băng qua bom đạn, phẫu thuật trong điều kiện thiếu thốn thiết bị y tế, hay những người lính quân y chấp nhận hy sinh để bảo vệ người bệnh đã khắc sâu vào tâm trí của nhiều thế hệ.

Dù trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, nhiều cơ sở y tế, bệnh viện còn trở thành mục tiêu đánh phá, ngành y tế vẫn duy trì được công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng chống dịch bệnh và bảo đảm sức khỏe cho bộ đội, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến giành độc lập.

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất vào năm 1975, ngành y tế Việt Nam bước vào một giai đoạn mới với những thách thức to lớn. Tuy nhiên, với quyết tâm của Đảng, Nhà nước cùng sự nỗ lực không ngừng của ngành y tế, Việt Nam từng bước xây dựng một hệ thống y tế toàn diện, lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của toàn dân.

Bước sang giai đoạn Đổi mới, ngành y tế cũng có những thay đổi quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Một trong những cải cách lớn nhất là sự ra đời của hệ thống bảo hiểm y tế vào năm 1992, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh cho người dân. Từ một mô hình bảo hiểm y tế tự nguyện, đến nay, tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế đã đạt trên 94% dân số, góp phần bảo đảm mọi người dân đều có quyền tiếp cận dịch vụ y tế với chi phí hợp lý.

Ngoài ra, chủ trương xã hội hóa y tế cũng được thúc đẩy, cho phép các bệnh viện tư nhân phát triển song song với hệ thống bệnh viện công lập, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, cải thiện chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh. Các bệnh viện tư, bệnh viện quốc tế xuất hiện ngày càng nhiều, góp phần giảm tải cho các cơ sở y tế công lập, đặc biệt là ở các đô thị lớn.

Những thập kỷ gần đây, ngành y tế Việt Nam đã có những bước đột phá trong việc nâng cao chất lượng điều trị, ứng dụng công nghệ cao và phát triển y học hiện đại. Các bệnh viện tuyến Trung ương như Bệnh viện Việt Đức, Bạch Mai, Chợ Rẫy, Trung ương Huế, Bệnh viện 108... đã làm chủ nhiều kỹ thuật y học tiên tiến. Các bác sĩ của chúng ta đã thực hiện thành công các ca ghép tạng phức tạp như ghép thận, ghép gan, ghép tim, ghép phổi… giúp cứu sống nhiều bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo. Phẫu thuật bằng robot được triển khai trong các lĩnh vực ngoại khoa, tiết niệu, thần kinh, ung bướu, giúp nâng cao độ chính xác trong điều trị. Công nghệ tế bào gốc được ứng dụng điều trị hiệu quả nhiều bệnh lý về máu, chấn thương tủy sống, xơ gan, ung thư.

Ngành y tế cũng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc nâng cao tuổi thọ và cải thiện chất lượng sống cho người dân. Tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam không ngừng được cải thiện, tăng từ khoảng 38 tuổi năm 1945, lên 60 tuổi (giai đoạn 1975-1980) và lên mức trung bình 74,5 tuổi hiện nay.

Cùng với sự phát triển của hệ thống y tế, công tác đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế đã được chú trọng, giúp Việt Nam có một đội ngũ bác sĩ, chuyên gia y tế đạt trình độ quốc tế. Các trường đại học y khoa hàng đầu như Đại học Y Hà Nội, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, Đại học Y Dược Huế… không ngừng đổi mới chương trình đào tạo, tăng cường thực hành lâm sàng, tiếp cận những tiến bộ y học tiên tiến. Bác sĩ Việt Nam ngày nay có trình độ chuyên môn ngang tầm thế giới, có thể thực hiện các kỹ thuật y học tiên tiến không thua kém các nước phát triển. Nhiều bác sĩ Việt Nam đã công bố các công trình nghiên cứu có giá trị, được cộng đồng y học thế giới đánh giá cao.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành y tế Việt Nam cũng đang đối mặt với nhiều thách thức lớn, đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ để bảo đảm mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân trong tình hình mới. Những thách thức này không chỉ đến từ những yếu tố nội tại của ngành mà còn bởi các yếu tố kinh tế, xã hội và công nghệ.

Dịp chúng ta kỷ niệm 70 năm thực hiện lời Bác dạy, chúng ta đã báo cáo với Bác kết quả thực hiện lời dạy này. Tuy nhiên chúng ta vẫn còn trăn trở với những gì chưa làm được, đặc biệt với mong muốn của Bác là “xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta” và “phải dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc và đại chúng”.

Một trong những thách thức lớn nhất của ngành y tế là thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, sức khỏe cộng đồng, tạo được nguồn nhân lực chất lượng tốt cho xã hội, tạo được cuộc sống khỏe mạnh, hạnh phúc cho mọi người dân. Ai cũng được chăm sóc sức khỏe để đạt được mong muốn kéo dài tuổi thọ và có cuộc sống mạnh khỏe, xã hội trong lành, không có dịch bệnh, không có nguy hiểm. Đây là mục tiêu của Đảng, của chế độ, cũng là điều mong muốn của nhân dân. Phấn đấu tuổi thọ trung bình của người dân là 80 tuổi, 90 tuổi và 100 tuổi.

Ngành y tế không phải chỉ là khám chữa bệnh mà phải là phòng ngừa bệnh tật. Ngành y tế có công tác y tế dự phòng nhưng chưa đáp ứng được như mong muốn. Qua phòng, chống dịch COVID-19 và một số đợt dịch bệnh khác vừa qua, ngành y tế đã bộc lộ những hạn chế yếu kém của công tác phòng chống dịch, nhất là trong y tế dự phòng. Cần tập trung đánh giá để rút ra những bài học trong công tác chỉ đạo, công tác chuyên môn. Cùng với đó, công tác phòng chống các bệnh thông thường (ung thư, tim mạch, nội tiết, gan, phổi...) cũng đang gặp nhiều khó khăn cần khắc phục sớm.

Bên cạnh đó, việc bảo vệ môi trường sống, công tác rèn luyện sức khỏe thường xuyên, chăm sóc sức khỏe cho người yếu thế (người già, trẻ nhỏ, phụ nữ, người tàng tật, người nghèo, trẻ mồ côi, người không nơi nương tựa...) chưa được chu đáo. Công tác kiểm soát thực phẩm, vệ sinh ăn uống, chế độ dinh dưỡng phòng bệnh trước các nguy cơ...

Công tác khám sức khỏe thường xuyên cho nhân dân chưa được đặt ra nghiêm túc. Bệnh tật phải được điều trị trước khi trở thành mãn tính.

Công tác tuyên truyền phòng bệnh trong nhân dân, giáo dục y tế cộng đồng để mọi người tự phòng bệnh, nâng cao khả năng tự tăng cường đề kháng còn hạn chế.

Thứ hai, vấn đề y đức trong ngành là một yêu cầu cần được quan tâm giải quyết. Các đồng chí tự hào có truyền thống khám chữa bệnh của dân tộc, các danh y hành nghề với đạo lý và y đức mang tính dân tộc, đặc biệt chúng ta có lời Bác căn dặn “Lương y như từ mẫu”. Tuy vậy, đâu đó vẫn có những thầy thuốc, người trong ngành y thiếu trung thực trong hành nghề, thậm chí đạo đức nghề nghiệp kém, thiếu trách nhiệm với người bệnh, phân biệt đối xử trong khám, điều trị bệnh, thiếu trách nhiệm, thờ ơ trước nỗi đau của người bệnh, vụ lợi, đặt lợi ích vật chất lên trên trách nhiệm của thầy thuốc. Còn hay không những thầy thuốc không có bằng cấp thật, chạy thành tích, đánh cắp đề tài, công trình nghiên cứu của đồng nghiệp, chỉ lo toan lợi ích cá nhân... và nguy hiểm nhất là quên thực hiện lời Bác dạy đối với cán bộ ngành y.

Thứ ba, hệ thống y tế cơ sở của chúng ta cũng còn nhiều hạn chế, bất cập. Đầu tư cho y tế tuyến cơ sở chưa đáp ứng nhu cầu thực tế; nhiều trạm y tế xã, trung tâm y tế huyện chưa được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại; tình trạng thiếu hụt thuốc, vật tư y tế vẫn xảy ra, đặc biệt tại các vùng nông thôn và miền núi. Tuyến y tế cơ sở hiện luôn thiếu bác sĩ và nhân lực. Một số vùng khó khăn vẫn gặp trở ngại trong việc triển khai tiêm chủng mở rộng do địa hình phức tạp, nhân viên y tế hạn chế. Hệ thống y tế cơ sở yếu nên để xảy ra tình trạng quá tải ở bệnh viện công, tuyến trên. Ảnh hưởng lớn đến chất lượng khám chữa bệnh.

Thứ tư, về nguồn lực, dù chúng ta đã có hệ thống đào tạo y khoa phát triển, nhưng ngành y tế vẫn đối mặt với tình trạng thiếu nhân lực, thiếu các chuyên khoa đặc thù, nhất là là tại vùng sâu, vùng xa. Thu nhập của nhân viên y tế, nhất là ở bệnh viện công, còn thấp so với khối lượng công việc và mức độ rủi ro. Điều này khiến nhiều bác sĩ, y tá giỏi chuyển sang khu vực tư nhân hoặc ra nước ngoài làm việc. Các địa phương vùng sâu, vùng xa, hải đảo gặp khó khăn trong việc thu hút và giữ chân nhân viên y tế. Khả năng chuyên môn có sự chênh lệch lớn giữa các tuyến. Từ hàng chục năm trước, chúng ta đã xác định rõ: “Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”. Tuy nhiên, nhìn lại đến nay, chúng ta mới chỉ có tuyển chọn, đào tạo đặc biệt, chứ chưa có được việc sử dụng và đãi ngộ đặc biệt.

Thứ năm, gần đây là tình trạng nhiều bệnh viện công gặp khó khăn trong việc đấu thầu mua sắm thuốc, trang thiết bị và vật tư y tế. Nguyên nhân chủ yếu cơ chế đấu thầu còn nhiều bất cập, khiến một số loại thuốc thiết yếu không thể trúng thầu do giá thấp hoặc nhà cung cấp không tham gia. Tình trạng thiếu thuốc, đặc biệt là thuốc hiếm, thuốc mới khiến bệnh nhân không được thụ hưởng hoặc phải chờ đợi hoặc tự tìm mua với giá cao hơn, theo con đường “hàng xách tay” hay đặt hàng cá nhân. Ở một số bệnh viện, cơ sở vật chất xuống cấp không được quan tâm đầu tư kịp thời, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường làm việc của các y, bác sĩ và điều kiện khám, chữa bệnh cho bệnh nhân. Nhiều trang thiết bị y tế tiên tiến, hiện đại không xuất hiện tại các bệnh viện công vì bị khống chế bởi quy chế đấu thầu hay một số quy định hành chính khác.

Việc ứng dụng công nghệ và số hóa y tế cũng còn chậm. Mặc dù y tế thế giới đang chuyển nhanh sang chăm sóc sức khỏe thông minh, số hóa thông tin bệnh án nhưng tại Việt Nam, chuyển đổi số trong y tế vẫn gặp nhiều rào cản. Bệnh án điện tử, y tế từ xa chưa được triển khai rộng rãi, nhiều bệnh viện vẫn sử dụng giấy tờ thủ công. Chúng ta cũng thiếu cơ sở hạ tầng công nghệ để đồng bộ dữ liệu sức khỏe trên toàn quốc; chưa có chính sách khuyến khích mạnh mẽ cho các công ty khởi nghiệp công nghệ y tế, việc áp dụng thành tựu công nghệ trong khám chữa bệnh còn hạn chế".
Chú thích ảnh Tổng Bí thư Tô Lâm tặng Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội nghị cán bộ y tế đầu năm 1955. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

"Trong những thách thức trên đây, có những vấn đề đã tồn tại từ lâu, chúng ta đã đề ra giải pháp trong các văn bản chỉ đạo của Đảng; Quốc hội và Chính phủ cũng đã có những bước triển khai cụ thể. Tuy nhiên, mức độ hiệu quả còn hạn chế, một số giải pháp cần thời gian để phát huy. Trong khi đó, những vấn đề mới, thách thức mới lại tiếp tục xuất hiện. Để giải quyết các thách thức đối với ngành y tế hiện nay và trong nhiều năm tới, bên cạnh việc tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Đảng về lĩnh vực y tế, Tôi xin nhấn mạnh mười hai nội dung sau:

Một là, cần đổi mới tư duy về lĩnh vực y tế. Y tế không chỉ là khám, chữa trị cho người bệnh, mà cần hơn, đó là chăm sóc sức khỏe cho nhân dân để hạn chế bệnh tật; cần tập trung nghiên cứu các biện pháp phòng bệnh, tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ; tăng cường năng lực cho sức khỏe sinh sản, nhi khoa và lão khoa; tăng cường y tế cộng đồng; tăng cường số lượt người dân được đến các cơ sở y tế thăm, khám sức khỏe hàng năm hoặc mỗi nửa năm.

Tập trung tháo gỡ khó khăn, rào cản, nút thắt để ngành y tế vươn dậy, để chúng ta có được“một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta” như mong muốn của Bác Hồ cách đây 70 năm.

Hai là, nâng cao y đức trong cán bộ y tế, Ngoài thực hiện thật tốt những lời dạy của Bác Hồ đối với cán bộ ngành y thì mỗi thầy thuốc, bác sĩ, cán bộ công nhân viên ngành y tế ngoài làm thật tốt chuyên môn thì cần nâng cao y thức tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe bệnh nhân; đối xử công bằng, không phân biệt “nhân thân” người bệnh; tôn trọng quyền và nhân phẩm của bệnh nhân; trung thực, khách quan trong thực hành công việc; luôn học tập nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn; thể hiện trách nhiệm với cộng đồng và xã hội, để thực sự là “ Mẹ hiền” trong con mắt bệnh nhân và gia đình người bệnh.

Ba là, củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống y tế cơ sở. Nâng cấp trang thiết bị và cơ sở hạ tầng cho trung tâm y tế huyện, trạm y tế xã; bảo đảm y tế cơ sở có đủ bác sĩ và nhân viên y tế có trình độ, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa; không ngừng cải thiện chất lượng dịch vụ y tế để thu hút người dân khám chữa bệnh tại địa phương thay vì đổ dồn lên bệnh viện tuyến trên. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả của các chương trình tiêm chủng và y tế dự phòng, mở rộng độ bao phủ của chương trình tiêm chủng mở rộng, bảo đảm tất cả trẻ em được tiêm chủng đầy đủ. Bên cạnh nhiệm vụ khám, điều trị bệnh cho nhân dân thì cần nâng cao các biện pháp phòng bệnh, các biện pháp chăm sóc sức khỏe ban đầu để hạn chế bệnh tật.

Giảm tải bệnh viện tuyến trên và phát triển hệ thống bệnh viện vệ tinh. Cần tăng cường đào tạo, chuyển giao kỹ thuật từ bệnh viện tuyến trung ương cho bệnh viện tuyến tỉnh, huyện; đầu tư phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu tại các địa phương để giảm áp lực cho bệnh viện lớn. Đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ trong khám chữa bệnh, giúp bệnh nhân ở vùng sâu, vùng xa tiếp cận bác sĩ chuyên khoa mà không cần di chuyển xa; xây dựng hệ thống tư vấn sức khỏe trực tuyến để hỗ trợ chẩn đoán ban đầu. Đồng thời, cần mở rộng các hình thức hợp tác công-tư và mở rộng không gian cho tư nhân tham gia đầu tư xây dựng cơ sở y tế, bệnh viện, trung tâm điều dưỡng... khuyến khích phát triển các bệnh viện, dịch vụ y tế ngoài khu vực nhà nước.

Bốn là, cải thiện chính sách đãi ngộ và đào tạo nhân lực y tế chất lượng cao. Bộ Y tế cần sớm có đề xuất cụ thể để cải thiện mức lương và chế độ phụ cấp cho bác sĩ, y tá, đặc biệt tại vùng khó khăn; hỗ trợ tài chính cho sinh viên y khoa cam kết làm việc tại y tế cơ sở sau khi tốt nghiệp. Đồng thời, cần chú trọng thúc đẩy nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế; hợp tác với các tổ chức y tế quốc tế để đào tạo bác sĩ, tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến; tạo điều kiện để bác sĩ tham gia hội nghị khoa học, trao đổi kinh nghiệm với các chuyên gia nước ngoài để không ngừng nâng cao trình độ, kinh nghiệm.

Năm là, cải cách tài chính y tế và bảo đảm sự bền vững của quỹ bảo hiểm y tế. Cần hoàn thiện chính sách bảo hiểm y tế để hỗ trợ người yếu thế, bảo đảm các nhóm yếu thế như người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có bảo hiểm y tế toàn diện; đồng thời cải thiện danh mục chi trả bảo hiểm y tế để giảm bớt gánh nặng tài chính cho bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo.

Sáu là, hoàn thiện pháp luật y tế. Xây dựng chiến lược tổng thể chăm sóc sức khỏe con người, sức khỏe cộng đồng (hoàn thiện Luật Phòng bệnh, Luật Khám chữa bệnh, Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm, Luật Thuốc chữa bệnh, Luật Đông y, Luật Dân số, Luật An toàn thực phẩm, Luật Thể dục thể thao...). Ngành y tế cần sớm hoàn thiện các quy định về quản lý dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe; phòng chống dịch bệnh và sức khỏe cộng đồng; quản lý thuốc, sinh phẩm và thiết bị y tế; Bảo hiểm y tế và an sinh xã hội; quyền và nghĩa vụ của người bệnh và nhân viên y tế...

Bảy là, cần sớm khắc phục bất cập trong đấu thầu mua sắm thuốc và thiết bị y tế. Đây không chỉ là vấn đề của ngành y tế mà còn của hệ thống chính trị. Chúng ta cần đặt câu hỏi tại sao ở các bệnh viện tư không có tình trạng này? Đây cũng là một “điểm nghẽn” về thể chế mà chúng ta cần khắc phục sớm, không để ảnh hưởng đến vận hành của ngành y tế, đến chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Nếu để kéo dài tình trạng này là chúng ta có lỗi với nhân dân. Chủ trương chung là vướng chỗ nào thì phải khắc phục ngay chỗ đó; nếu cần sửa luật thì phải sửa luật; nếu thực sự cần cơ chế đặc biệt thì phải có cơ chế đặc biệt để bảo đảm thuốc và vật tư được cung ứng đủ, chất lượng tốt, giá cả hợp lý.

Tám là, phát triển y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại. Y học cổ truyền có vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe, đặc biệt trong điều trị bệnh mãn tính và phục hồi chức năng. Vì vậy, cần nâng cao vai trò của y học cổ truyền trong hệ thống y tế; kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong chẩn đoán và điều trị; đẩy mạnh nghiên cứu về các bài thuốc dân gian, nâng cao tính khoa học của y học cổ truyền; đầu tư vào các trung tâm nghiên cứu đông y, phát triển các phương pháp chữa bệnh hiệu quả bằng thảo dược; hỗ trợ đào tạo bác sĩ y học cổ truyền, mở rộng mô hình kết hợp Đông - Tây y. Cạnh chúng ta là một nước có thế mạnh, có thể nói là dẫn đầu thế giới và rất gần với y học cổ truyền Việt Nam là “Trung y”, là “thuốc Bắc” nhưng hợp tác giữa hai bên cũng còn giới hạn.

Chín là, tăng cường ứng dụng công nghệ số vào quản lý và khám chữa bệnh. Cần thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý y tế; triển khai bệnh án điện tử, đồng bộ dữ liệu sức khỏe giữa các bệnh viện và cơ sở y tế. Cần tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) trong chẩn đoán, điều trị bệnh và phân tích xu hướng dịch bệnh, đồng thời đầu tư phát triển các phần mềm hỗ trợ bác sĩ trong việc ra quyết định điều trị, tăng độ chính xác trong chẩn đoán bệnh. Cần tăng cường ứng dụng AI trong chẩn đoán thông minh; ghép tạng; phát triển công nghệ tế bào gốc; kỹ thuật Gen trị liệu; phẫu thuật Robot; công nghệ in 3D nhằm cá nhân hóa thiết bị y tế cho y học cá thể hóa...

Mười là, nâng cao công tác y tế cộng đồng, tuyên truyền phòng bệnh trong nhân dân, phát triển phong trào rèn luyện thể lực. Cần khuyến khích người dân nâng cao thể lực, rèn luyện thể thao; nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong trường học; xây dựng cơ sở hạ tầng thể thao cộng đồng, khuyến khích người dân tham gia các hoạt động thể chất. Cần nâng cao công tác tuyên truyền, khuyến khích kiểm tra sức khỏe định kỳ, phát hiện bệnh sớm; khuyến khích lối sống lành mạnh, phòng chống bệnh tật. Mỗi người dân cũng cần có trách nhiệm nâng cao ý thức bảo vệ sức khỏe, chủ động rèn luyện thể lực, thực hành lối sống lành mạnh.

Mười một là, công tác hợp tác quốc tế trong phòng chống bệnh tật. Trong “thế giới phẳng” hiện nay, hợp tác quốc tế để tăng cường năng lực kiểm soát và ứng phó với dịch bệnh, trong chữa trị bệnh là một phần quan trọng trong chiến lược y tế toàn cầu. Trong đó tập trung vào chia sẻ thông tin dữ liệu dịch tễ (tình hình dịch bệnh, nguồn gốc, diễn biến, biện pháp ứng phó, phối hợp giám sát, cảnh báo sớm...); hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghiệp y tế; hỗ trợ tài chính, kỹ thuật, hợp tác trong sản xuất, phân phối thuốc, vắc xin; xây dựng chính sách và khung pháp lý chung, tăng cường năng lực ứng phó khẩn cấp khu vực và quốc tế, trước mắt tập trung hợp tác với các nước trong khu vực, các cường quốc y tế...

Mười hai là, công tác vệ sinh môi trường sống, tinh thần lành mạnh, không bi quan, tiêu cực, không sử dụng chất kích thích, gây nghiện... Ngoài phấn đấu mọi gia đình, khu dân cư, cộng đồng đều “Sáng- Xanh-Sạch-Đẹp” thì ngành y tế rất cần có các chương trình góp phần cùng các đơn vị chức năng khác giáo dục cộng đồng về giữ gìn vệ sinh nơi ở, nơi làm việc; xử lý rác thải, đảm bảo nguồn nước, nguồn không khí không ô nhiễm; vệ sinh thực phẩm và ăn uống hợp vệ sinh; kiểm soát côn trùng và động vật gây bệnh; cải thiện điều kiện vệ sinh cá nhân và cộng đồng...

Thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,

Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho nhân dân không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà còn là trách nhiệm của mỗi người dân, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Để đạt được mục tiêu xây dựng một nền y tế hiện đại, công bằng và hiệu quả, cần có sự tham gia tích cực của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các ngành, trong đó ngành y tế đóng vai trò nòng cốt. Cần huy động tổng thể các nguồn lực, từ việc hoàn thiện chính sách, cải thiện hệ thống y tế cơ sở, thu hút và đãi ngộ nhân lực y tế, đến việc ứng dụng công nghệ số và đẩy mạnh y tế dự phòng.

Với quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, cùng với sự nỗ lực không ngừng của ngành y tế, chúng ta tin tưởng rằng ngành y tế Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên thịnh vượng và phát triển. Đất nước ta có trường tồn phát triển, nhân dân ta có được khỏe mạnh, hạnh phúc, kéo dài tuổi thọ, sống khỏe là nhờ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, sự sâu sát của ngành y tế. Sức khỏe con người là điều quý nhất; có sức khỏe sẽ có tất cả, sức khỏe là điều mong muốn nhất. Mọi điều chúc nhau đầu tiên là chúc sức khỏe... và ngành y tế rất vinh dự được giao trách nhiệm là lực lượng chủ công trong nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Một lần nữa, tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến toàn thể các giáo sư, thầy thuốc, các y bác sĩ, nhân viên y tế trên khắp cả nước. Chúc các đồng chí luôn mạnh khỏe, vững vàng, tiếp tục phát huy tinh thần "Lương y như từ mẫu", đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Xin trân trọng cảm ơn!".

Address

Ben Cat

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chi hội phụ nữ khu phố Phú Hoà phường Hoà Lợi posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category