30/01/2026
___
26
Khi làm thiện Pháp (bố thí - trì giới - hành thiền) hay các phước thiện lợi ích cho số đông, những trạng thái tâm chán nản, mệt mỏi ấy vẫn có thể khởi lên. Nguyên nhân không phải do thiện Pháp ta làm, mà chính là do các tập khí bất thiện trong ta chưa được đoạn trừ.
- Sự mệt mỏi, chán nản không phải do thiện Pháp, mà do các thói quen bất thiện còn tồn tại trong tâm.
Dấn thân trong thiện Pháp là một chuyện.
Còn tâm mệt mỏi, chán nản lại là một chuyện khác.
Chúng ta cần quán chiếu và nhận diện rõ các thói quen bất thiện ấy, để có thể dần dần đoạn trừ.
Muốn vậy, cần tinh tấn trong thiện Pháp,
Làm nhiều,
Làm liên tục,
Làm bền lâu,
Làm cùng đại chúng,
Làm đúng thời,
Làm đúng duyên
và luôn giữ tâm chuyên cần trong sự thực hành.
Cũng cần phải quán rõ rằng: gặp gỡ nhau, cùng sống chung một trú xứ, cùng tu, cùng làm việc… tất cả đều do duyên hội tụ.
Việc ấy là việc lành.
Làm phước thiện là lành.
Tinh tấn tu tập cũng là lành.
Do vậy, khi có duyên được liên hệ cùng chư Tăng, chư Ni, hành giả hay những người thực hành hạnh lợi tha như các Hộ Tăng, thì chính mình cũng đang được chung phần trong thiện Pháp ấy.
Đó quả thật là điều lành, điều tốt đẹp.
Tuy nhiên, cũng có khi tâm sân khởi lên, khiến ta chán nản: không muốn tu tập, không muốn đắp y, không muốn tiếp tục ở lại tu viện.
Thực chất, đó chính là sân trong tự tâm.
Bởi vì không thấy rõ tội lỗi của sân, nên ta lại quay sang thấy lỗi ở nơi người khác.
Chỉ khi nào thấy rõ tội lỗi của tham, sân, si, thì tham, sân, si mới có thể suy giảm.
Khi làm việc thiện, khi giữ giới, khi tinh tấn tu tập thì Chân lý hiển lộ.
Chân lý ấy chính là tham trong tâm mình, sân trong tâm mình và si mê trong tâm mình.
Những phiền não ấy vốn có sẵn và đang hiển lộ rõ ràng. Việc cần làm là quán sát chúng, nhận biết chúng.
Nhiều người, khi thấy điều này, lại chỉ thấy lỗi ở người khác - rồi chán ghét hàng tu sĩ, hành giả… và rút lui, bỏ cuộc.
Nếu không vượt qua được chướng ngại ấy, thì không thể tiếp tục làm thiện Pháp, không thể tinh tấn tu tập, cũng không thể hoằng Pháp lợi sinh.
Đó là sai lầm lớn.
Đó là trạng thái tâm có thể khởi lên.
Chuyện ấy có thể xảy ra đối với người giữ giới, với hàng Tăng sĩ, hành giả, hay người sống trong tu viện.
Ngay cả trong các công việc thế gian, cũng sẽ gặp những trạng thái tâm như vậy.
Thực ra, bất cứ ai cũng sẽ gặp phải những điều trên.
Bởi vì đó là phiền não trong chính mình.
Tại sao tâm mệt mỏi? - vì sân của mình.
Tại sao tâm thất vọng? - cũng vì sân của mình.
Không hiểu được sự thật ấy - do si mê của mình.
Không thấy rõ sự thật ấy - cũng là vì si mê của chính mình.
- Ottamathara Sayadaw -
590. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
___
Ok
25
592. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
___________________
- Làm phước là cách để thoát khỏi tính ích kỷ và mở rộng tấm lòng vô ngã vị tha. Đồng thời qua việc làm đó học ra chính mình, học ra bản chất đời sống để phát huy trí tuệ và đạo đức...
- Không làm các điều ác, làm các việc lành và giữ tâm thanh tịnh trong sáng là cách làm tăng trưởng tâm lực và phước lực.
- Phước có nhiều thứ, không phải chỉ có tiền mới làm phước. Nghe pháp, phục vụ, cung kính, lễ bái, hành theo giới, định, tuệ, bát chánh đạo v.v... đều là phước có thể hồi hướng đến cha mẹ và cũng là cách sám hối thiết thực những sai lầm về trước.
"...Phước trí thật sự chỉ có khi tinh tấn chánh niệm tỉnh giác, trọn vẹn sáng suốt nơi thực tại thân thọ tâm pháp. Phước trí vô vi vô ngã này tự toả ra ảnh hưởng lợi lạc đến muôn loài một cách tự nhiên ..."
593. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
______
0k
_____
Ok
595. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
___________________
24
- Cúng dường có nghĩa là: những gì do lòng tham mà có, những gì vốn được chấp giữ là “của tôi”, chỉ đơn giản là buông bỏ. Tham dục giống như một sức mạnh đang giết hại, khiến ta mê đắm trong tà kiến, vì vậy cần phải tháo gỡ nó ra.
- Cúng dường, ở nghĩa sâu xa, chính là sự đối trị với lòng tham, đừng để nó đến gần, đừng để nó chi phối.
- Cúng dường cũng giống như nói: “Hãy để nó là như vậy” – một sự ước nguyện buông xả, nhưng đồng thời cần phải cảnh giác, tỉnh thức và ghi nhớ. Xin hãy cúng dường, bởi khi ấy, việc làm ấy sẽ trở thành một ân phước, một biểu hiện của tâm từ, và chắc chắn sẽ mang lại quả lành.
- Điều quan trọng không phải chỉ là cúng cái gì hay cúng như thế nào, mà là tâm ý phía sau. Nếu xuất phát từ lòng từ và trí tuệ, thì việc cúng dường mới thật sự có lợi ích. Nếu chỉ làm vì có người giục giã, hay chỉ vì người khác yêu cầu, thì việc ấy thiếu thiện chí, không có thiện tâm bên trong. Dù có mang tiếng là phước, nó cũng chẳng đẹp đẽ. Nếu chỉ làm vì thấy người khác làm rồi mình phải làm theo, thì đó không phải là việc làm bằng ý thức riêng, mà chỉ giống như con bò kéo xe – không có chủ ý, chỉ vì người khác thúc đẩy.
- Phước báu thật sự chỉ phát sinh khi ta làm bằng chính tâm thức của mình, trong sự tỉnh giác, tự nguyện và có chủ ý. Còn nếu chỉ làm vì người khác bảo, thì chẳng khác nào bò kéo xe, không có gì đặc biệt. Vì vậy, con người và loài bò không nên giống nhau.
- Nghiệp là như thế: khi biết việc ấy lành, hãy tự thân làm, đừng chờ người khác thúc đẩy. Nếu cứ để mình rơi vào thói quen theo đuôi, thì sẽ chẳng có tâm thiện tự thân.
Phước lành chỉ thật sự vững chắc khi nó phát sinh từ ý thức và trí tuệ riêng của chính mình, trong sự tỉnh giác, chánh niệm và hướng tâm trọn vẹn về điều thiện.
- Đại Trưởng lão Mahabodhi
596. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
__________________
Ok
____
Ok
____________
23
♦️ Hãy nhìn nhau bằng đôi mắt Phạm trú.
- Đối với mỗi người, cả trong hiện tại và khi vắng mặt, chúng ta cần nuôi dưỡng tâm từ qua thân hành, khẩu hành và ý hành.
Nghĩa là, bao quanh nhau bằng năng lượng của tâm từ, và rộng hơn nữa là bằng bốn tâm vô lượng: từ, bi, hỷ, xả, để có thể hành xử hòa hợp, đồng thuận.
- Chúng ta cần biết nhìn người khác với đôi mắt từ ái (mettā), với lòng bi mẫn (karuṇā), với niềm hoan hỷ (muditā), và với sự hiểu biết, chấp nhận theo nghiệp duyên mà họ đang thọ quả (upekkhā). Hãy thấy nhau như một chúng sanh đáng thương yêu, một chúng sanh đáng được cảm thông, một chúng sanh để cùng vui mừng khi họ có điều tốt đẹp, và một chúng sanh đang chịu quả báo theo nghiệp lành hay dữ của chính họ.
Chính việc thấy được như vậy mới gọi là nhìn bằng đôi mắt xả – upekkhā, đôi mắt Phạm trú.
- Nếu thay vì dùng bốn đôi mắt Phạm trú này, chúng ta lại nhìn nhau bằng con mắt thường tình: con mắt ưa thích, con mắt trong gia đình, con mắt ở nơi này, con mắt ở nơi kia… tức là bằng nhiều kiểu nhìn khác nhau, thì các công việc của Giáo Pháp sẽ khó mà thành tựu tốt đẹp.
-,Vì vậy, đối với những chúng sanh cần tâm từ, ta hãy nhìn bằng đôi mắt từ
đối với những chúng sanh cần lòng bi, hãy nhìn bằng đôi mắt bi
đối với những chúng sanh cần niềm hỷ, hãy nhìn bằng đôi mắt hỷ
và đối với những chúng sanh cần sự quân bình, hãy nhìn bằng đôi mắt xả.
Như thế mà ta thực hành, hành sự và sống chung cùng nhau.
- Pa Auk Sayadaw -
601. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
____
22
Tham ái của con người không bao giờ có điểm dừng.
- Vừa ăn xong một bữa, chỉ cần nghe ai đó nhắc đến món ngon là chúng ta lại muốn ăn tiếp.
Nếu muốn ngăn mình, chúng ta phải dùng lý trí: “Tại sao mình lại muốn ăn nữa? Mình vừa ăn xong và đã no. Thức ăn vẫn đang được tiêu hóa. Nếu thật sự muốn, hãy để đến ngày mai.”
Đây là ví dụ về việc dùng lý trí để chặn đứng sự thèm khát.
- Dục vọng vô tận chính là nguyên nhân tạo ra mọi rắc rối cho tất cả chúng ta. Nếu ai cũng biết suy nghĩ hợp lý, nhân loại có thể sống hòa bình với nhau trên hành tinh này. Thế giới vốn có dư thừa mọi thứ, nhiều hơn cả nhu cầu cần thiết của chúng ta. Nhưng vì lòng tham không ngừng nghỉ, con người lúc nào cũng cảm thấy thiếu thốn.
Chúng ta nghĩ rằng càng có nhiều thì càng hạnh phúc. Chính ảo tưởng này gây ra vấn đề.
- Chiến tranh xảy ra cũng bởi lòng tham. Nếu mọi người đều là Phật tử, thì có thể sống an hòa bên nhau. Không cần xâm lấn quốc gia khác, không cần lợi dụng người khác.
- Người Phật tử sống và ăn uống đơn giản.
Không lấy quá nhiều.
Biết đủ với những gì đang có.
Chỉ ăn vừa đủ cho thân thể cần.
Chỉ tiêu thụ những gì thật sự cần thiết.
Hai bộ y trắng là đủ cho người cư sĩ: hôm nay mặc bộ này, mai mặc bộ kia trong khi giặt bộ thứ nhất, rồi thay đổi luân phiên.
- Chư Tăng chỉ dùng ba mảnh y: nội y, ngoại y, và y đôi để dùng trong mùa lạnh. Thông thường chỉ dùng hai mảnh. Nếu sống theo lời Phật dạy, ta không cần nhiều. Không cần đến tủ áo.
- Nhưng thực tế thì sao? Con người lại có vô số loại y phục cho từng dịp: y phục buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, quần áo ngủ… Tất cả đều phải giặt giũ, giữ gìn. Từ đó phát sinh đủ thứ rắc rối – chỉ vì chúng ta không suy nghĩ hợp lý, không biết bao nhiêu là đủ.
- Nếu biết suy nghĩ khôn ngoan, có lý trí, chúng ta sẽ sống an hòa với nhau trên thế giới này.
Hạnh phúc thật sự vốn nằm ở bên trong: đó là sự bình an của tâm.
- Đáng tiếc thay, chúng ta không bao giờ giữ được tâm trong tầm kiểm soát. Chúng ta để nó bị lôi kéo bởi tham, sân, si, gây ra bao đau khổ.
- Đức Phật dạy: Tâm bị kích động bởi những gì mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm. Vừa thấy hay nghe điều gì, ta liền muốn có. Khi lòng tham khởi lên, tâm trở nên bồn chồn, bất an.
Ngược lại, nếu biết suy nghĩ hợp lý, biết y theo lời Phật dạy, ta có thể tự nhắc nhở tâm mình đừng chạy theo dục vọng mù quáng.
- Trong thế gian này, dù có bao nhiêu tiền – hàng triệu hay hàng tỷ – cũng không thể mua được hạnh phúc mà Đức Phật chỉ ra.
Hạnh phúc ấy nằm trong chính chúng ta. Ta chỉ cần làm cho nó khởi sinh. Khi ấy, ta sẽ thoát khỏi mọi rắc rối.
- Hạnh phúc này là vĩnh viễn. Bởi một khi đã có được, ta có thể giữ nó mãi. Đó mới thật sự là tài sản của riêng mình.
Mọi tài sản khác đều có thể bị cướp đoạt, hư hoại: xe có thể bị đánh cắp, nhà có thể bị trộm phá, ngay cả chồng hay vợ rồi cũng sẽ rời xa ta.
Nhưng không ai có thể lấy mất hạnh phúc từ sự bình an trong tâm.
602. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
_____
21
Ok
- Cúng dường có nghĩa là: những gì do lòng tham mà có, những gì vốn được chấp giữ là “của tôi”, chỉ đơn giản là buông bỏ. Tham dục giống như một sức mạnh đang giết hại, khiến ta mê đắm trong tà kiến, vì vậy cần phải tháo gỡ nó ra.
- Cúng dường, ở nghĩa sâu xa, chính là sự đối trị với lòng tham, đừng để nó đến gần, đừng để nó chi phối.
- Cúng dường cũng giống như nói: “Hãy để nó là như vậy” – một sự ước nguyện buông xả, nhưng đồng thời cần phải cảnh giác, tỉnh thức và ghi nhớ. Xin hãy cúng dường, bởi khi ấy, việc làm ấy sẽ trở thành một ân phước, một biểu hiện của tâm từ, và chắc chắn sẽ mang lại quả lành.
- Điều quan trọng không phải chỉ là cúng cái gì hay cúng như thế nào, mà là tâm ý phía sau. Nếu xuất phát từ lòng từ và trí tuệ, thì việc cúng dường mới thật sự có lợi ích. Nếu chỉ làm vì có người giục giã, hay chỉ vì người khác yêu cầu, thì việc ấy thiếu thiện chí, không có thiện tâm bên trong. Dù có mang tiếng là phước, nó cũng chẳng đẹp đẽ. Nếu chỉ làm vì thấy người khác làm rồi mình phải làm theo, thì đó không phải là việc làm bằng ý thức riêng, mà chỉ giống như con bò kéo xe – không có chủ ý, chỉ vì người khác thúc đẩy.
- Phước báu thật sự chỉ phát sinh khi ta làm bằng chính tâm thức của mình, trong sự tỉnh giác, tự nguyện và có chủ ý. Còn nếu chỉ làm vì người khác bảo, thì chẳng khác nào bò kéo xe, không có gì đặc biệt. Vì vậy, con người và loài bò không nên giống nhau.
- Nghiệp là như thế: khi biết việc ấy lành, hãy tự thân làm, đừng chờ người khác thúc đẩy. Nếu cứ để mình rơi vào thói quen theo đuôi, thì sẽ chẳng có tâm thiện tự thân.
Phước lành chỉ thật sự vững chắc khi nó phát sinh từ ý thức và trí tuệ riêng của chính mình, trong sự tỉnh giác, chánh niệm và hướng tâm trọn vẹn về điều thiện.
- Đại Trưởng lão Mahabodhi Myaing Sayadaw -
580. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
_____________
____
20
- Kẻ vô văn phàm phu tạo tác những nghiệp bất thiện, còn bậc Đa Văn Thánh Đệ Tử (sutavā Ariya Sāvaka) thì tạo tác các thiện nghiệp. Cả hai đều tạo ra hình ảnh của họ trên khung vải của vòng luân hồi, song một người thì vẽ trên khung vải thô của sự tái sanh gian khó trong cõi người, và tái sanh bất hạnh trong cõi súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục…, trong khi người kia vẽ trên khung vải mượt mà của sự tái sanh may mắn trong cõi người, và tái sanh an vui trong các cõi chư thiên.
- Tất nhiên đó chỉ là nói theo sự thực chế định hay tục đế (sammuti-sacca). Còn theo sự thực tối hậu hay chân đế (paramattha-sacca), hoặc theo thực tại (yathā-bhūta), thì tất cả cái được tạo ra chỉ là khổ (dukkha), là năm thủ uẩn (pañc-upādāna-kkhandha):
sắc………………(rūpa)
thọ……………(vedanā)
tưởng…………..(saññā)
hành……….(saṇkhāra)
thức…………(viññāṇa)
- Đó là những gì Đức Phật giải thích trong kinh ‘Dây Trói Buộc’ thứ hai:
- “Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, có tạo ra bất cứ thứ gì, y chỉ tạo ra sắc, có tạo ra bất cứ thứ gì, y chỉ tạo ra thọ, có tạo ra bất cứ thứ gì, y chỉ tạo ra tưởng, có tạo ra bất cứ thứ gì, y chỉ tạo ra các hành, có tạo ra bất cứ thứ gì, y chỉ tạo ra thức.”
- Theo sự thực chế định, trong cõi người, năm thủ uẩn này là một người đàn bà, hay một người đàn ông. Và theo sự thực chế định, một người đàn bà hay đàn ông có thể là đẹp hoặc xấu: những bất thiện nghiệp tạo ra một người đàn bà hay đàn ông xấu, trong khi những thiện nghiệp tạo ta một người đàn bà hay đàn ông đẹp. Nhưng dù cho chúng có đẹp hay xấu, có cao thượng hay hạ liệt, trong mọi trường hợp, chúng đều là vô thường, khổ và vô ngã.
- Bao lâu tư (cetana) của một người còn tạo ra nghiệp, bao lâu họ vẫn còn tiếp tục chạy quanh vòng luân hồi, chừng đó những bất thiện nghiệp vẫn đưa đến tái sanh và hoạch đắc các uẩn, đó là, khổ; các thiện nghiệp cũng vẫn đưa đến tái sanh, và hoạch đắc các uẩn, cũng chỉ là khổ.
- Nhưng Đức Phật ở đây đang nói về những nghiệp hiệp thế (lokiya-kamma). Nghiệp này khác với nghiệp siêu thế (lokuttara-kamma). Tại sao? Bởi vì những nghiệp siêu thế dẫn đến sự diệt không còn dư tàn của nghiệp: đó là sự không vận hành của nghiệp.
- Vì thế bây giờ chúng ta sẽ bàn luận về đề tài ấy. Tuy nhiên, trước tiên, chúng ta sẽ trở lại bài kinh ‘Dây Trói Buộc’ thứ hai.
581. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
______
_______________
Ok
___
_______________________
..
19
ĐỪNG XEM THƯỜNG HÀNH ĐỘNG THIỆN ÁC DẦU LỚN DẦU BÉ.
- Cứ mỗi lần quý vị làm một chuyện thiện, ác dầu lớn, dầu bé. Thí dụ như cười khẩy, cười đểu, mình tưởng cái cười đó nó không phải là ác Nghiệp, nhưng đó là ác Nghiệp, bởi vì nó được tác động bởi Tâm xấu.
- Tâm ác là một câu nói, một suy nghĩ, một hành động lớn bé được tác động bởi Tâm xấu dầu đó là cái hấy, nguýt, lườm, liếc. Cho nên đừng coi thường. Việc thiện, việc ác nào đi nữa nó cũng bị tác động bởi một loại Tâm tương ứng.
- Trong kinh nói Đức Phật có 32 hảo tướng, trong đó có tướng mắt đẹp không cưỡng được.
Mắt Ngài đẹp như mắt con bò con, ở tròng trắng của Ngài nó màu xanh nhiều, đen và đẹp.
-,Vì trong nhiều kiếp Ngài không có nhìn người khác hấy, nguýt, lườm liếc. Ngài chỉ nhìn người khác bằng Tâm từ.
- Kẻ thù muốn hại Ngài, họ nhìn cặp mắt của Ngài họ phải chùn bước, họ cầm dao là rớt dao. Chỉ trừ trường hợp ác Nghiệp quá khứ nó trổ Ngài né không được.
- Giọng nói của Đức Phật là giọng nói Phạm Âm (giọng nói Phạm Thiên).
- Là vì nhiều đời khi thấy không vui là Ngài không nói nữa. Giọng nói của Ngài có thể làm mềm lòng người hung tợn nhất, vì trong rất nhiều kiếp Ngài chỉ dùng ngôn ngữ để hàn gắn kết nối, không chia rẽ gây hận thù, không làm ai phải đổ máu rơi lệ, Ngài dùng ngôn từ của Ngài để đem lại niềm vui cho người khác.
- Trong kinh nói Ngài có âm thanh, người mà không thích Ngài khi họ nghe tiếng nói của Ngài cái lòng họ cũng chùn xuống. Cho nên kiếp chót âm thanh Ngài rất hay.
- Chúng sanh nghe giọng nói, nhìn ánh mắt của Ngài họ chịu không nổi. Con voi điên gặp Ngài nó còn phải quỳ sụp xuống, không phải Ngài dùng phép lạ nhưng vì quá nhiều kiếp Ngài đem máu xương cho người ta, cho nên với hạnh lành đó bây giờ Ngài sanh ra họ nhìn Ngài giống như con thơ gặp mẹ vậy.
- Vì sao Ngài có Phước đó ?
Vì nhiều đời Như Lai không nhìn người khác bằng Tâm thù hận, rất nhiều kiếp như vậy.
Cho nên kiếp cuối trước khi thành Phật cặp mắt Ngài nhìn Chư Thiên, nhìn loài người có thể cảm hoá được họ.
- Đức Phật Ngài có gót chân không giống người bình thường, so với mình nó hơi dài và đẹp hơn.
Là vì suốt nhiều đời Ngài giữ giới sát sanh, Ngài không có giết cho nên kiếp chót Ngài sanh ra Ngài không bị tử thương, không bị giết chóc, không chết bất đắc kỳ tử.
- Ngài có tướng ống chân rất đẹp, nếu Ngài đi tu hay không đi tu cái gì cũng mau hơn người ta hết, là vì nhiều đời nhiều kiếp Ngài học đạo với chư Phật Ngài nghĩ ra cách nào học nhanh nhất, học hiệu quả nhất có thể giúp cho người khác học nhanh giống như mình.
Đức Phật có đầy đủ tướng tốt không phải để cho vui, mà những tướng tốt đó là phản ảnh Công Đức của Ngài đã tu nhiều đời.
- Cho nên bất cứ việc thiện ác lớn bé nào khi nó xuất hiện trong đầu của mình, trước hết là Tâm bất thiện, nó sẽ tác động ra thân và khẩu.
585. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
_______________________
0k
18
A. Nên Đại Tri Ân Cho Kẻ Vĩ Đại Trao Cho Ta 3 Món Quà Đáng Giá (vô giá) Nhất Tầm Cỡ Vũ Trụ
1. Cho người khác có niềm tin tịnh tính vào Tam Bảo. Xem Tam Bảo là chốn quay về
(Tăng Chi Bộ - Pháp Một Chi)
Giúp họ vì sao phải quy y?
2.Trao cho ta nhận hiểu biết, nhận thức về Tứ Thánh Đế
(Kinh Đại Bát Niết Bàn trong Trường Bộ Kinh có nói: "Này các Tỳ Kheo do không hiểu Bốn Đế nên Ta và các ngươi đã lăn trôi sanh tử nhiều đời)
3.
Kẻ nào giúp cho mình chứng đắc thánh trí,
lìa bỏ phiền não, chấm dứt tái sanh
586a. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
___________
Ok
B. Nên Đại Tri Ân Cho Kẻ Vĩ Đại Trao Cho Ta 3 Món Quà Đáng Giá (vô giá) Nhất Tầm Cỡ Vũ Trụ
Giải Thích
1. Cho người khác có niềm tin tịnh tính vào Tam Bảo. Xem Tam Bảo là chốn quay về
(Tăng Chi Bộ - Pháp Một Chi)
Giúp họ vì sao phải quy y?
A. Phật Bảo:
Vô song, Vô Thượng về Bi Đức: Ai ngài cũng thương
Vô song về Trí Đức: Cái gì Ngài cũng biết
Vô song vêc Tịnh Đức: Phước Lành, Đức Lành nào ngài cũng có nhưng thuộc hàng Top
B. Pháp Bảo
- Pháp là những hướng dẫn từ con người vĩ đại, vô song, vô thượng ấy
- Pháp là những gì chư Phật chứng đắc đem ra truyền dạy cho chúng ta
- Pháp là phương thuốc hữu hiệu để chữa bách bệnh bệnh trầm luân của chúng sanh
- Pháp là cách ngài trao truyền cách mà ngài đã ra khỏi rừng, khỏi đám cháy bằng cách nào, trao truyền riêng cho từng người
C. Tăng Bảo
- Quy y Tăng không phải là nhắm đến người có hình thức, mà những người phải có nội dung
- Tăng có chỗ thì 4 vị trở lên gọi là Tăng
- Tăng cũng có chỗ nói là vị dù là Sadi được đại diện bởi 4 vị Tăng trở lên đề cử để đi đại diện đâu đó. Ví dụ như Phật Tử cúng dường
- Tăng ở đây còn chỉ là những vị đã chứng Thánh từ Tu Đà Hoàn trở lên. Đây gọi là Tăng Bất Biến
586b. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
_______________
Ok
C. Nên Đại Tri Ân Cho Kẻ Vĩ Đại Trao Cho Ta 3 Món Quà Đáng Giá (vô giá) Nhất Tầm Cỡ Vũ Trụ
Giải Thích
2.Trao cho ta nhận hiểu biết, nhận thức về Tứ Thánh Đế
(Kinh Đại Bát Niết Bàn trong Trường Bộ Kinh có nói: "Này các Tỳ Kheo do không hiểu Bốn Đế nên Ta và các ngươi đã lăn trôi sanh tử nhiều đời)
Nguyên nhân của khổ là lấy 1 cái khổ khác thay cho cái khổ này, kiếm 1 cái giải pháp khác quẩn quanh trong cái khổ...
Con đường thoát khổ là không thích trong khổ nữa, không còn giải khác bằng nước muối nữa...
Nói theo kiểu vi diệu pháp
Lục căn tiếp xúc, nghĩ, thấy, cảm thọ... lục trần là khổ
Lục căn thích cái gì từ lục trần là nguyên nhân để tạo khổ
Đạo đế là Anh quan sát đế 1 và đế 2
Khi nào vắng cái tập thì mới có diệt đế
Mà diệt đế ở đây là diệt đế nói theo kiểu tục đế phàm phu
Ví dụ Tu Đà Hoàn vắng 1 mớ tập đế
Đó là vắng
Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ
Mà nói tóm lại là vắng thân kiến và hoài nghi vì giới cấm thủ cũng nằm trong thân kiến và hoài nghi
Không còn thân kiến và hoài nghi thì không còn
Ganh tỵ và bỏn xẻn
A Na Hàm trừ được dục ái
A la hán trừ được sắc ái và vô sắc ái
Ái có nhiều loại 1500, 108, 36, 6, 3, 1, 2
Ái ở Từ Đà Hoàn có 2
Đó là có tà kiến đi cùng và không có tà kiến đi cùng
Nghĩa là tham hợp tà và tham ly tà
Mà Tu Đà Hoàn ở đây họ không còn có cái ái hợp tà nữa
---> họ không có khả năng đầu thai hơn 7 kiếp
Tu Đà Hoàn
Là người tham dự vào dòng chảy không thể quay lui
Là tầng Thánh sơ ngộ
Hiểu 4 Đế bằng
Trí văn do học hỏi
Trí tư do tư duy, suy diễn
Trí tu do chứng nghiệm, sống bằng 4 niệm xứ, sống chánh niệm, làm gì biết nấy, bằng sự thấm thía với hỗ trợ của ba la mật
Ba la mật là khi làm sẽ làm bằng cái niềm tin, lý tưởng, ước nguyện, hy vọng cầu giải thoát, không cầu quả nhân thiên
Trí tu khi thực chứng về vô thường, khổ, vô ngã, nó sẽ khác với vô thường, khổ, vô ngã mà ta học
Trí tu sẽ thực chứng và chứng nghiệm trên thân và tâm ta
Ví dụ khi người ta nói sầu riêng mà mình chưa được nếm
Vào 1 ngày đẹp trời mình nến sầu riêng và mình nhận ra nó, cảm bằng vị giác theo cách của mình. Oh nó là thế này à
Nên hiểu rằng trí tu nếu tu sai pháp thì nó không có chống ta nhưng nó không có giống Bản Chất Pháp Phật Dạy
Đáng nói của từ sai Pháp đó là Tăng Thượng Mạng đó là chưa Đắc tưởng Đắc, chưa chứng tưởng chứng rồi
Ví dụ ngồi nệm êm là tưởng cảm giác êm diệu nhưng thật ra do cái nệm quá êm
Ví dụ ngồi thấy mát mát cơ thể nhưng thật ra thì cơ thể sắp trúng gió
586c. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
_____________
Ok
D. Nên Đại Tri Ân Cho Kẻ Vĩ Đại Trao Cho Ta 3 Món Quà Đáng Giá (vô giá) Nhất Tầm Cỡ Vũ Trụ
Giải Thích
3.
Kẻ nào giúp cho mình chứng đắc thánh trí,
lìa bỏ phiền não, chấm dứt tái sanh
_____
a. Hàng hà sa số kiếp chúng ta mới mang thân người
b. Hàng hà sa số kiếp mới có một vị phật ra đời
Mà làm sao 2 cái này gặp nhau được?
Được gặp Phật và Mang thân người
c. Cơ hội gặp được chánh pháp, biết lắng nghe, biết suy tư
Điều kiện hoàn cảnh sống, tâm sinh lý mình ra sao có hợp trí hay ly trí trước Phật Pháp, thậm chí trước mặt Đức Phật
Thời Đức Phật có những kẻ ly trí, tà trí vẫn dững dưng trước mặt Đức Phật, trước Chánh Pháp mà.
586d. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
_______________________
_______________________
_______________________
Ok
17
Suy tư về khởi thủy của dòng luân hồi là một thái độ chống lại lợi ích bản thân nếu không muốn nói là ngu xuẩn, manh động. Trong tấm thân sanh tử nhọc nhằn này cùng với một trí tuệ quá ư hạn chế, kẻ phàm phu truy tìm chi vấn đề xa vời đó khi mà mỗi kiếp sống chỉ là một khoảnh khắc của cuộc luân hồi vô thủy vô chung, trăm năm chỉ là một nháy mắt của thời gian vĩnh cửu. Họ sẽ được gì với nỗi trăn trở vô bổ đó, nếu không là những mệt nhoài, thất vọng và bất lực. Do đó, trong một đoạn Kinh, Đức Phật đã lên tiếng cảnh cáo tất cả:
“ Này các Tỳ Kheo! Có 4 điều này được xem là bất khả tư nghì. Đây là những đề tài tư duy có thể gây loạn trí cho người cố tình suy nghĩ. Thế nào là 4 điều bất khả tư nghì? Ở đây này các tỳ kheo!
-Khả năng TRÍ TUỆ CỦA CHƯ PHẬT là một điều bất khả tư nghì. Cố tình suy nghĩ về Phật trí có thể dẫn tới điên loạn.
-Lại nữa, LÃNH VỰC THIỀN ĐỊNH là một điều bất khả tư nghì thứ hai. Việc trắc lượng về đề tài này cũng có thể đưa tới điên loạn.
-Đề tài thứ ba, vấn đề NGHIỆP QUẢ, cũng là điều bất khả tư nghì, Suy tư về đề tài này có thể đưa tới điên loạn.
-Và cuối cùng là TƯ DUY VỀ THẾ GIỚI QUAN, này các tỳ kheo, suy nghĩ về vấn đề này cũng có thể đưa tới điên loạn, đây cũng là một đề tài bất khả tư nghì“
Bằng vào lời nhắc nhở của bậc Đạo sư, tất cả chúng ta chỉ nên tìm hiểu dòng tử sinh của mình qua nguyên LÝ DUYÊN KHỞI với bốn khía cạnh tiêu biểu như đã nói ở trước. Đó là một điều cần thiết và nằm trong khả năng của chúng ta. Chúng ta đang bị khổ thì phải tìm con đường nào đúng đắn và thực tế nhất để thoát khổ. Chỉ vậy thôi.
Và con đường này chỉ có được khi mà chúng ta thấu đáo được nguyên lý Duyên Khởi. Không bao giờ có chuyện một người chứng ngộ đạo quả lại chẳng biết gì về lý Duyên Khởi.
Giáo lý Duyên Khởi
Triết học Phật giáo
589. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
_______________________
_____
16
Nếu ta cứ nghĩ mãi về lỗi lầm của người khác - thì sẽ đánh mất thời gian để suy nghĩ về điều thiện lành cho chính mình.
Nếu ta cứ mải nói về những điều xấu của người khác - thì sẽ đánh mất thời gian để thốt ra những lời thiện lành, lợi ích cho mình và cho người.
Nếu ta chỉ ngồi nhìn người khác làm việc ác - thì sẽ đánh mất thời gian để tự mình làm việc thiện.
Thế gian này ngày càng bức bối. Vì vậy, chỉ khi biết giữ tâm an tĩnh, mát mẻ - thì khoảnh khắc ngắn ngủi của đời sống mới trở nên có giá trị.
Khắp chốn ồn ào náo động - chỉ khi ta nỗ lực giữ tâm lặng yên, an nhiên, ta mới thực sự chuẩn bị sẵn sàng; bởi không ai biết ngày nào, giờ nào hay cách nào mình sẽ ra đi.
Chớ phung phí thời gian cho những việc không đem lại phước báu, không tăng trưởng trí tuệ, không nuôi dưỡng tài sản chân chính - mà chỉ chất chứa thêm những điều bất thiện.
Công đức chân thật vốn mang bản chất tĩnh lặng, mát mẻ - còn bất thiện thì ồn ào, nóng bức.
Vì vậy, hãy lặng lẽ một chút, bởi đời người rất nhanh sẽ trôi qua.
567. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
-
______________________
Ok
_______________________
Ok
15
_______________
Đừng mất thì giờ phân định việc thị phi cho rành mạch đen trắng trong khi tất cả đều chỉ là tương đối trong tục đế mà thôi.
Cái đúng với người này có thể sai với người khác, cái phải ở chỗ kia có thể trái ở nơi nọ, cái đang đúng lúc này không hẳn sẽ đúng về sau v.v...
Những điều con cho là đúng trước đây bây giờ con lại thấy sai, nhưng một ngày kia con thấy nó cũng đúng với trình độ căn cơ của con lúc đó.
Hoá ra tất cả đều sai mà tất cả cũng đều đúng, đúng sai chỉ là tương đối và tùy duyên.
Một sự kiện chỉ có thể được gọi là đúng khi đúng lúc, đúng chỗ và đúng với bản chất thật của nó, nên Dịch Lý gọi đó là “thời vị trung chính".
Con thích hợp với pháp thầy hướng dẫn không có nghĩa là pháp thầy hay nhất thiên hạ mà chỉ vì căn duyên con hợp với pháp đó vậy thôi.
Thật ra thầy chỉ đúng với những người hữu duyên với thầy, còn với những người không có duyên thì họ vẫn thấy sai.
Hơn nữa, dù điều thầy nói đúng với chân thiện mỹ nhưng nếu ứng dụng không đúng chỗ, không đúng lúc, không đúng căn cơ trình độ của người nghe, người hành thì vẫn sai con ạ.
Giống như bác sĩ cho toa thuốc, toa ấy chỉ có giá trị khi trị đúng bệnh. Dùng đúng liều lượng thì một vị thuốc độc vẫn có thể chữa lành bệnh, nhưng không dùng đúng chỗ thì một vị thuốc bổ lắm khi vẫn có thể hại người!
Pháp cũng vậy, đúng sai khó lường nên Phật dạy:
"Pháp như thuyền đưa người qua sông pháp còn phải bỏ huống chi phi pháp".
Vậy tốt nhất là:
“Một lòng rỗng lặng sáng trong
Thị phi, xấu tốt, thong d**g cõi ngoài
Từ bi, trí tuệ chẳng hai
Mỉm cười chợt ngộ đúng sai… “thế à!”
Chúc con sống hồn nhiên như thị với vạn pháp.
Thầy.
Hòa Thượng Viên Minh.
571. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
_______________________
_______________________
Tuệ Quán 2275
14
- Chúng ta không thông qua Phật Pháp để huấn luyện, thì cuộc đời sẽ bị nghiệp chi phối trong cuộc sống này, không còn cách nào khác.
- Nếu nghiệp muốn mình hạnh phúc, thì hạnh phúc; nếu nghiệp muốn mình đau khổ, thì phải đau khổ, chúng ta hoàn toàn bị thụ động.
- Nhân sinh chỉ có hình dung bạn: “Tất cả do số mệnh, chút đỉnh chẳng do người”.
- Nếu có nhiều phước lành, bạn chỉ đơn giản là ở đây để hưởng thụ những phước lành từ kiếp trước, và chỉ vậy thôi, bạn không thể làm gì khác.
Bởi vì bạn đang sống hoàn toàn trong ý thức về tự ngã, bạn tin rằng đây là những thứ bên ngoài, không phải là biểu hiện của nghiệp; bạn tin rằng tất cả đều là có thật.
573. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
____________
_____________
13
🌿 Nước Chảy
Cơ thể già và bệnh là chuyện tự nhiên chẳng có gì sai quấy cả. Bởi thế chẳng phải cơ thể chúng ta làm cho chúng ta đau khổ, mà ý nghĩ sai lầm đã đem lại khổ đau cho chúng ta. Khi chúng ta thấy sai sự thật thì phiền não đương nhiên sẽ đến. Ví như nước trong dòng sông, bản tánh tự nhiên của nước là chảy xuống chỗ thấp. Nước từ đồi chảy xuống, chẳng bao giờ nước chảy ngược lên đồi, đó là đặc tính riêng của nước. Đứng bên bờ sông nhìn nước từ cao chảy xuống, nếu ta có ý muốn nước chảy ngược lên thì ta sẽ đau khổ, đau khổ vì chúng ta có ý nghĩ sai lầm hay tà kiến. ý nghĩ của chúng ta đi ngược dòng. Nếu có chánh kiến, ta sẽ thấy rằng nước phải chảy từ cao xuống thấp. Vì không hiểu rõ và chấp nhận định luật tự nhiên này nên chúng ta luôn luôn bị dao động và buồn khổ, do đó, chẳng bao giờ tìm được sự bình an tâm hồn. Nước phải chảy từ cao xuống thấp. Cơ thể chúng ta cũng vậy, nó phải trải qua giai đoạn trẻ trung, già yếu, bệnh hoạn, rồi chết. Đó là chuyện tự nhiên. Đừng kỳ vọng nó diễn biến theo đường lối phản tự nhiên. Chúng ta không có cách nào để cưỡng lại định luật sanh-già-bệnh-chết này. Vậy đừng đi ngược dòng. (Ajahn chah)
575. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
____________
12
Con Đường
Bất kỳ đang ở nơi nào cũng phải có thái độ tự nhiên và luôn luôn quán chiếu để tự hiểu mình. Nếu hoài nghi phát sanh, hãy để nó đến và đi tự nhiên. Đây là chuyện thật giản dị, hãy xả bỏ tất cả. Cũng giống như đi trên đường, nhiều khi bạn gặp chướng ngại. Khi gặp phiền não, hãy nhìn chúng, chế ngự chúng, rồi xả bỏ, để chúng tự ra đi. Đừng nghĩ tưởng tới những chướng ngại đã qua, đừng lo âu về những chướng ngại chưa đến. Hãy sống trong hiện tại. Đừng quan tâm đến chiều dài của con đường, cũng đừng để ý tới nơi sẽ đến. Mọi chuyện đều thay đổi. Những gì đã gặp qua hãy xả bỏ. Cuối cùng, tâm sẽ đạt được trạng thái quân bình. Bấy giờ dầu bạn đang ngồi nhắm mắt, hay đang rảo bước trong phố thị ồn ào, thì tâm bạn vẫn bình an tĩnh lặng. (Ajahn chah)
576. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
____________
____
___________________________
11
KIẾP SỐNG HIỆN TẠI
Ngay trong đời sống hiện tại của một người đã nói lên phần nào quá khứ và tương lai của họ. Đời này thọ quả gì, thì biết do nhân đời trước. Đời này tạo nghiệp gì thì biết quả đời sau. Chúng ta có thể tiên đoán vận mệnh của một người qua cách mà họ đang sống như sau:
“. Người luôn sáng suốt định tĩnh, trong lành, sống hạnh vô ngã vị tha, biết yêu thương muôn loài vạn vật là đang hành PHẬT ĐẠO.
. Người luôn tự tri tự giác, không hại mình hại người, có tấm lòng bao dung hỷ xả thì đang hành THÁNH ĐẠO.
. Người sống dù thành bại, được mất hơn thua, vui khổ mà vẫn xem đó là bài học để tự giác giác tha, không nản chí sờn lòng thì đó là đang hành BỒ TÁT ĐẠO.
. Người luôn hoan hỷ trong thiền định, không màng việc bên ngoài, nội tâm thường tĩnh chỉ là đang hành SẮC, VÔ SẮC THIÊN ĐẠO.
. Người hoan hỷ trong điều thiện, biết giữ gìn thân tâm trong lành mát mẻ là đang hành DỤC GIỚI THIÊN ĐẠO.
. Người sống có tình có lý, biết người biết ta, bình đẳng và điều độ, quân bình, không thái quá là đang hành NHÂN ĐẠO.
. Người tỏ ra uy quyền, nóng nảy, cố chấp, sân hận, thích chỉ đạo người khác theo ý mình là đang hành A TU LA ĐẠO.
. Người sống theo bản năng, thích ăn thích ngủ, chỉ biết hưởng thụ vật chất là đang hành SÚC SANH ĐẠO.
. Người sống tham lam, ích kỷ chỉ biết lợi mình hại người, thường chìm đắm trong tài tình, danh lợi, sắc đẹp, dính mắc… thì đang hành NGẠ QUỶ ĐẠO.
. Người sống hung ác, tàn bạo, đê tiện, hạ liệt, làm khổ người khác, sát sanh, trộm cướp, tà dâm… là đang hành ĐỊA NGỤC ĐẠO.
Thầy Viên Minh
578. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
_____________
***B. Mục Thiền Tuệ 361
Tuệ Quán 2526
10
_ Có ba bước để sống : chạy theo cái mình thích, chạy theo cái thiện, tu Tứ Niệm Xứ quán sát thân tâm để thấy rằng thiện ác buồn vui trong từng phút đội nón ra đi. Cái thiện lành nào đi nữa cũng đang đội nón ra đi. Người tu Tứ Niệm Xứ hiểu một chuyện nữa là ta có làm bao nhiêu điều lành đi chăng nữa khi ta chết ta có về cảnh giới sung sướng nào bằng trời đi nữa thì hết tuổi thọ ta cũng rơi trở về chỗ cũ. Thứ nhất trong 1 ngày lòng ta ác nhiều hơn thiện nên người ác nhiều hơn người thiện nên cơ hội làm thiện rất ít. Thứ hai sau khi về trời hưởng hết phước xuống gặp toàn người ác.
_ Trong kinh nói dòng luân hồi rất đáng sợ : thứ nhất đã rơi xuống cảnh giới thấp cơ hội lên cảnh giới cao rất khó, mà đang ở cảnh giới cao xuống cảnh giới thấp chỉ 3 nốt nhạc. Thứ hai cơ hội làm thiện rất ít vì gặp người xấu nhiều hơn người tốt và bản thân biết Phật Pháp, thờ Phật trên đầu nhưng bất thiện nhiều hơn thiện. Thứ ba vì bản chất phàm phu khi khổ là dễ làm bậy, khi sướng thì làm biếng tu.
_ Thái độ của ta 6 căn đối với 6 trần như thế nào thì con người ta cũng y chang như vậy. Đại kị của người tu là mong đắc này đắc kia. Tu là một hành trình mà giá trị của nó nằm ngay trên đường đi. Trong con người mình cứ mỗi giây phút trôi qua là ta gom một mớ ác nghiệp và thiện nghiệp. Khi ta quơ như vậy ta thành ra một con người khác. Khi với mớ thiện ác đó ta trở thành một con người khác, với con người khác ấy, ta lại có những cái thích và ghét không giống trước đây. Với kiểu thích ghét ấy ta lại liên tục thành con người khác. Mỗi bài Pháp của Chư Phật y chang một cơn mưa, không phân biệt nơi chốn. Nhưng tùy vào chỗ mưa rơi xuống mà ở đó ta nhận được lợi ích gì của cơn mưa hay không. Ta phải làm chủ 6 căn nhưng không phải đi ngược lại lý vô ngã mà làm chủ là kiểm soát được nó như có thể. Vì sao ? Trong kinh nói có 3 lý do ta phải sống chánh niệm để kiểm soát lấy mình : ta không biết chết lúc nào, chết ở đâu, chết rồi ta đi về đâu. Có 3 kiểu chết Ra đi thanh thản mĩm cười là cái chết của người liễu đạo. Ra đi trong sự chán chường của tấm thân ngũ uẩn là cái chết của người hiểu đạo. Ra đi trong sự sợ hãi và tiếc nuối là cái chết của người vô đạo.
579. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP - 37 BỒ ĐỀ PHẦN
_____________
___
9
- Pháp (Dhamma)… đừng hiểu lầm rằng nó ở đâu xa. Nó ở ngay trong chính thân-tâm của chúng ta.
- Nói rằng Pháp ở trong kinh điển lá bối – không phải.
- Đó chỉ là những chiếc lá được dùng để ghi chép lại.
- Nói rằng Pháp ở trong chùa – cũng không phải.
Đó chỉ là nơi cư ngụ của Tăng chúng.
- Nói rằng Pháp ở trên không trung, trong rừng núi cũng không phải.
- Vậy Pháp ở đâu?
Pháp ở ngay trong thân và tâm của con người này.
- Sắc Pháp và Danh Pháp ở đâu?
Chính đó là Pháp. Trong thân - tâm này có đủ cả.
- Các bậc Thánh: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán – đều có mặt trong chính thân-tâm này.
84.000 pháp môn (Pháp uẩn) – cũng ở trong thân-tâm này.
- Ai muốn thực hành Phật Pháp – hãy quay về thực hành ngay nơi chính mình.
- Trong loài người, đây là nơi tối thượng,
có thể chứng đạt thanh tịnh qua Thánh Đạo – Quả – Niết-bàn.
- Người tu hành nếu lạc vào chỉ Samatha (định an tĩnh) - tức là chỉ đắm trong các tầng thiền - thì Đức Phật gọi đó là định khúc gỗ, nghĩa là không tăng trưởng, không sinh hoa kết quả. Vì còn lạc trong sự an lạc, xem đó là cứu cánh, nên không thoát khỏi khổ đau.
- Con đường chánh yếu là thực hành Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna):
Quán thân, quán thọ, quán tâm, quán Pháp.
Quán thấy rõ vô thường (anicca) – không chắc chắn,
Khổ (dukkha) – bản chất bất toại nguyện,
Vô ngã (anattā) – không có cái “ta”.
- Thấy rõ các Pháp như vậy ngay trong tâm.
Từ đó, tâm sẽ tiến vào Thánh Đế (Ariyasacca),
và cuối cùng đi vào Con đường Thánh Đạo (Magga).
- 562. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - VI DIỆU PHÁP
- Nghe Pháp, ngồi thiền, tinh tấn hành Pháp, tham gia các khóa tu, thực hành bố thí, trì giới… – tất cả những công việc ấy cần được tự thân thực hành, để có thể thật sự biết và hiểu rõ giá trị của những việc liên quan đến Phật - Pháp - Tăng.
- Nếu không có sự thực hành tự thân, thì giá trị của những công việc ấy sẽ không bao giờ trở thành sự hiểu biết chân thật nơi chính mình.
- Nếu chỉ nghe người khác nó, chỉ làm theo truyền thống, phong tục tập quán… mà bản thân không trực tiếp thực hành, thì sự hiểu biết ấy vẫn chưa đủ, vẫn chưa vững chắc.
- Cần phải nỗ lực từ sự đọc Kinh sách, từ sự nghe Pháp, hành Pháp để tiến xa hơn nữa - cho đến khi chính nơi ngũ uẩn này có thể hiểu được Pháp.
- Điều quan trọng là phải thực hành liên tục.
Thực hành bao nhiêu thì sự hiểu biết sẽ phát sinh bấy nhiêu.
Chỉ khi tinh tấn, thường xuyên và đều đặn, ta mới ngày càng nhận ra, hiểu rõ hơn giá trị của những Pháp hành này.
558. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - HỌC CHÁNH PHÁP MỖI NGÀY
____
_____
8
TÔI
Ngày 20 tuổi tôi muốn thay đổi cả thế giới
Ngày 40 tuổi tôi muốn thay đổi những người quanh tôi
Ngày 80 tuổi tôi chỉ muốn thay đổi mình tôi
___
Càng lớn tuổi thì cái nhìn của người ta nó khác đi
1. Chững chạc
2. Mất dần cái tự tin
3. Tích lũy kinh nghiệm đời họ nhận ra những sự thật mà hồi trẻ họ không thấy ra
- Tình trạng sức khoẻ
- Tình trạng tâm lý
___
- Đa số chúng sanh hay mắt phải 3 thứ này:
1. Tôi còn trẻ mà
2. Tôi còn khoẻ mà
3. Tôi chưa có chết đâu
Đi đám tang lúc nào cũng suy nghĩ lại.
- Nếu suy nghĩ 3 vấn đề này thì không thể nào mà tinh tấn để mà hành thiện lánh ác.
- Mình phải nghĩ rằng tất cả đều là khổ. Hạnh phúc hay khổ đau cũng là khổ.
Dù thiện hay ác cũng là nhân sanh tử
- TUY NHIÊN dù sao người sống có kiểm soát thì cũng là người luôn tiến hoá về tâm linh, tinh tấn cho kiếp này, dọn đường cho kiếp sau.
525 TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN
__
Ok
7
Vô Văn Phàm Phu
- Trong kinh thì Đức Phật hay dùng những từ nàynhằm ám chỉ cho hạng người
- Không gần gũi, thân cận, học hỏi các bậc hiền trí, các bậc Thánh
- Thích gì làm đấy
- Không biết, không tin lý nhân quả
- Không biết Tam Tướng: Vô thường, khổ, vô ngã
- Vô minh do không biết Tứ Thánh Đế
Kẻ Vô Văn Phàm Phu sống trong cảnh già bệnh mà không biết sợ
Còn Bậc Hiền Trí già, bệnh, chết nó chưa xuất hiện là người ta đã nghĩ nó rồi.
Sau khi mệnh chung thì hầu hết hạng này sẽ sanh vào các cõi thấp kém, khổ cảnh là điều tất nhiên, dĩ nhiên, mặc nhiên, đương nhiên.
526 TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN
___
Ok
_________
6
Trình Độ Quyết Định Thái Độ
- Cõi Nhàn Cảnh, Tịnh Cảnh Chỉ Còn Là Cái Tên
Có những cuộc gặp gỡ ta trở thành hiền thánh
Nhưng cũng có những cuộc tương phùng nó làm cho ta trở nên con chó con heo.
- Cũng là lục trần nhưng quan trọng anh nhìn với tâm thức gì? Chánh niệm, trí tuệ, có thiền định, có tàm, có quý, có tín, có tấn, có niệm, có tuệ thì cái nhìn ấy biến ta thành hiền thánh.
- Cũng có những cuộc tương phùng nó làm cho ta trở nên con chó con heo.
Nghĩa là cũng là hình ảnh đó, âm thanh đó, giọng nói đó là đề mục để người ta tu tập thành hiền thánh.
- Còn anh, anh dùng lục căn của anh nhìn lục trần bằng tâm tham, sân, si, ái, mạng, kiến, nghi, tị hiềm, bủn xỉn, nhỏ mọn, toang tính...
- Mình tưởng giờ mình có nhà quần là áo lụa, xe cộ, phương tiện đầy đủ bậc nhất là mình ngon lắm.
Mình mê đắm trong cái thích và cái ghét
Thích ghét bằng tâm tham, sân, si, ái, mạng, kiến, nghi, tị hiềm, bủn xỉn, nhỏ mọn, toang tính.
Rồi còn thiếu bi, thiếu trí, thiếu tuệ, thiếu niềm tin... Thì khi rắt thở rồi thì nó sẽ tìm ngay một mảnh đất để nó sanh sôi. Bởi vì trong người mình có rất nhiều hạt giống.
- Ghê nhất, gớm nhất là khả năng ăn thịt sống, uống máu tươi rất lớn
khả năng ăn phân rất lớn
Khả năng sống, ăn uống trong nước cóng rãnh rất lớn
- Tham, sân, si nằm ở đâu thì phân người và cóng rãnh nằm ở đó. Chỉ mấy ông tham, sân, si này mới đưa mình về môi trường bẩn thiểu này.
- Các tâm lành, tâm thiện không thể đưa về đây được.
Tín, tấn, niệm, định, tuệ
Từ bi, bao dung, cảm thông, chia sẻ, nhận thức...không thể nào nó đưa mình xuống chỗ bẩn thiếu đó được nói riêng và 4 đường ác đạo nói chung.
- Tham, sân, si, ái, mạng, kiến, nghi, tị hiềm, bủn xỉn, nhỏ mọn, toang tính là con đường là lộ trình đưa mình xuống
Mấy cái lỗ cóng
Mấy cái bồn cầu
Chung vào đóng rác
Đưa mình đi rừng sâu núi thẳm, rừng thiên nước độc
Đưa mình đến chỗ liếm láp, ăn thịt sống máu tươi.
- Tùy vào thái độ sống
Tùy sáu căn tiếp xúc với sáu trần bằng thái độ tâm thức như thế nào
Trình độ nó quyết định thái độ sống, thái độ tâm lý, thái độ tâm thức từ sáu trần
________
5
- Giá trị của một con người nó có sức chứa của trái tim
Tim anh chứa được bao nhiêu thì giá trị nó nặng bấy nhiêu
- Cái giá trị của con người không phải là anh ta nhận được bao nhiêu mà còn cái khả năng anh ta trao ra bao nhiêu
- Những cái loài thấp kém nó không có khả năng trao ra. Chỉ có con người mới có khả năng trao ra. Con người là động vật cao cấp, vạn vật chi linh.
- Còn khi mình sống mà mình chỉ nghĩ thân này là của mình, tài sản này là của mình, thân này là của mình, dân tộc này là của mình nó trở thành nếp sống kép kính.
Một là ích kỉ bản thân
Hai là sống bầy đàn. Đây là tâm thức bầy đàn
- Thế giới này nói nó nằm trong chữ xúc cũng được, thọ cũng được, tưởng cũng được.
Cảnh giới cao nhất của người tu là không còn xúc, thọ, tưởng nữa, không còn tư nữa
Tư nghĩa là ý niệm thiện, ác trong lúc 6 căn làm việc với 6 trần
- Muốn không còn sanh tử thì đừng có mấy cái món này.
Sự vắng mặt của mấy món này tức là niết bàn. Chính là sử giải thoát triệt để, rốt ráo, tuyệt đối.
Và còn đường dẫn đến Niết Bàn phải là con đường hành trì Bát Chánh Đạo.
- Ý Nghĩa
- Khi sáu căn tiếp xúc 6 trần bằng tâm chánh niệm, thiền định, trí tuệ thì sẽ:
1. Thu thúc lục căn giúp thân nghiệp thanh tịnh, khẩu nghiệp thanh tịnh, ý nghiệp thanh tịnh
2. Tái sanh nơi nhàn cảnh có TUỆ
3. Giảm đi số lần luân hồi trong vị lại, nhất là luân hồi khổ
Và còn nhiều ý nghĩa khác...
530 TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - GIÚP BẠN HỌC KINH
_______________
Ok
4
PHÁP MÔN TU NGUYỆN
1. Đời đời kiếp kiếp hễ còn sanh tử thì xin cho con gặp Minh Sư, Thiện Hữu.
2. Đời đời kiếp kiếp xin cho con có điều kiện thực hiện công đức dù cho con giàu nghèo, sang hèn. Hễ gặp Hiền Thánh thì con luôn có trái chuối, củ khoai để làm Phước.
3. Đời đời kiếp kiếp xin cho con gặp được đối tượng đáng lạy, đáng cúng dường, lễ bái
4. Đời đời kiếp kiếp khi con có lòng làm ác, thì đừng cho có điều kiện.
5. Đời đời kiếp kiếp xin cho con đừng bị dối lừa bởi cái vẻ bề ngoài ngon lành hấp dẫn dầu về tình cảm hay là về đạo học.
6. Đời đời kiếp kiếp con xin được sớm nhận ra cái gì là cốt lõi, cái gì là cành lá.
7. Con sống bao lâu không quan trọng chỉ xin được chết sạch, chết yên và chết tỉnh.
8. Đời đời kiếp kiếp xin cho con khả năng ly dục, chứng thiền dễ dàng.
✨Nguyện là xác định một ước muốn trong tâm lý để trở thành một ấn tượng tâm lý trong tương lai.
🙏Mỗi câu NGUYỆN là một lần tác ý (cetana). Tác ý nhiều lần trở thành TÂM NGUYỆN (adhitthana).
👉Sáng, trưa, chiều, tối cứ làm một bài NGUYỆN như vậy. Lâu dần trở thành một sức mạnh rất lớn.
Chép lại bài giảng sư Giác Nguyên ( Toại Khanh )
🙏❤️🙏
Sư Toại Khanh
___
3
BỐ THÍ 🪬🪬🪬
Có ba sự Bố Thí:
1️⃣ Tài Thí
— Đem chia sẻ Vật chất của mình cho người khác.
2️⃣ Pháp Thí
— Chia sẻ cái hiểu của mình về Chánh Pháp cho người khác.
3️⃣ Vô Úy Thí
— Đem lại An lòng cho người khác.
***
- Điều thứ ba này ít Phật tử để ý. Tôi e rằng không nhiều người biết làm sao sống cho người khác yên tâm, an lòng.
- Khi mình làm bất cứ điều gì bất thiện thì phải hiểu rằng, việc làm này làm cho thế giới này trở nên bất an bất ổn.
542. TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN - GIÚP BẠN HỌC KINH
____________
2
🌸 “LỢI DỤNG” NHÀ SƯ 🌸
🌿Có một lần, sau khi đi đến đảnh lễ Ngài Trưởng Lão Hộ Pháp xong, anh cận sự nam ngồi hầu chuyện Ngài.
Ngài Hộ Pháp cười rồi hỏi:
-“ Sao tuần nào con cũng lên lợi dụng Sư vậy?”.
🌿Anh chàng hoảng hốt phân bua:
-“ Bạch Sư, con lên đây dâng cúng vật thực chứ có lợi dụng gì Sư đâu ạ?”.
🌿Ngài vẫn cười hiền từ và giải thích:
-“ Này con, những đồ ăn này, con để 3 ngày là mốc meo thiu hỏng, vải y kia, con để hơn năm là mục nát, tiền bạc của cải của con, khi ác nghiệp đến hoặc mãn thời kì của quả thiện, sẽ bị nước cuốn lửa thiêu tiêu hoại, tất cả đều chỉ vật tạm thời con tạm sở hữu, nhưng giờ con mang đến dâng cúng cho Sư, Sư nhận những đồ tạm thời vô chủ biến hoại hư hỏng đó, con nhận lại phước thiện cao quý, cho con sự an lạc hạnh phúc cõi Người, cõi Trời, là duyên lành cho con giải thoát khổ Níp-bàn như vậy, chẳng phải con đang lợi dụng sư, mang mảnh gốm sứt đổi lấy vàng ròng, mang cái vô chủ đổi lấy cái của mình, mang cái vô thường khổ não đổi lấy cái giải thoát khổ, có phải vậy không?”.
🌿Anh chàng hiểu ra liền hoan hỷ bạch Ngài:
-“ Kính bạch Sư, vậy Sư từ bi tế độ cho phép con được lợi dụng dài dài ạ”.
🌿Thật vậy, giống như Ngài Trưởng Lão Kassapa có chư Thiên hay vua trời Sakka hay phú hộ giàu có đến dâng cúng vật phẩm thượng vị, nhưng Ngài vì tâm Bi thương xót từ chối đồ vật cao sang mà đã nhận phần cơm cháy của bà lão ăn xin nghèo khổ để mong cho bà được phước thiện cao quý và đặc biệt. Sau khi bà chết, tái sinh lên làm Chánh Cung Hoàng Hậu của vua Trời có oai lực hùng mạnh và hào quang sáng ngời.
🌿Nếu những ai mong cầu hạnh phúc đời nay đời sau, hãy hoan hỷ tinh tấn hi sinh từ bỏ tiền bạc của cải hay thân thể sinh mạng để gìn giữ bồi bổ phước thiện Bố thí, Giữ Giới, Xuất gia, Trí Tuệ,.... chính là con đường mà chư bậc Thiện Trí tán thán và khen ngợi.
___
1.
- Có những cuộc gặp gỡ ta trở thành hiền thánh
Nhưng cũng có những cuộc tương phùng nó làm cho ta trở nên con chó con heo.
Cũng là lục trần nhưng quan trọng anh nhìn với tâm thức gì? Chánh niệm, trí tuệ, có thiền định, có tàm, có quý, có tín, có tấn, có niệm, có tuệ thì cái nhìn ấy biến ta thành hiền thánh.
- Cũng có những cuộc tương phùng nó làm cho ta trở nên con chó con heo.
Nghĩa là cũng là hình ảnh đó, âm thanh đó, giọng nói đó là đề mục để người ta tu tập thành hiền thánh.
- Còn anh, anh dùng lục căn của anh nhìn lục trần bằng tâm tham, sân, si, ái, mạng, kiến, nghi, tị hiềm, bủn xỉn, nhỏ mọn, toang tính...
- Mình tưởng giờ mình có nhà quần là áo lụa, xe cộ, phương tiện đầy đủ bậc nhất là mình ngon lắm.
Mình mê đắm trong cái thích và cái ghét
- Thích ghét bằng tâm tham, sân, si, ái, mạng, kiến, nghi, tị hiềm, bủn xỉn, nhỏ mọn, toang tính.
Rồi còn thiếu bi, thiếu trí, thiếu tuệ, thiếu niềm tin... Thì khi rắt thở rồi thì nó sẽ tìm ngay một mảnh đất để nó sanh sôi. Bởi vì trong người mình có rất nhiều hạt giống.
- Ghê nhất, gớm nhất là khả năng ăn thịt sống, uống máu tươi rất lớn
khả năng ăn phân rất lớn
Khả năng sống, ăn uống trong nước cóng rãnh rất lớn
- Tham, sân, si nằm ở đâu thì phân người và cóng rãnh nằm ở đó. Chỉ mấy ông tham, sân, si này mới đưa mình về môi trường bẩn thiểu này.
- Các tâm lành, tâm thiện không thể đưa về đây được.
Tín, tấn, niệm, định, tuệ
Từ bi, bao dung, cảm thông, chia sẻ, nhận thức...không thể nào nó đưa mình xuống chỗ bẩn thiếu đó được nói riêng và 4 đường ác đạo nói chung.
- Tham, sân, si, ái, mạng, kiến, nghi, tị hiềm, bủn xỉn, nhỏ mọn, toang tính là con đường là lộ trình đưa mình xuống
Mấy cái lỗ cóng
Mấy cái bồn cầu
Chung vào đóng rác
Đưa mình đi rừng sâu núi thẳm, rừng thiên nước độc
Đưa mình đến chỗ liếm láp, ăn thịt sống máu tươi.
- Tùy vào thái độ sống
Tùy sáu căn tiếp xúc với sáu trần bằng thái độ tâm thức như thế nào
Trình độ nó quyết định thái độ sống, thái độ tâm lý, thái độ tâm thức từ sáu trần
527 TUỆ QUÁN - CÂU NÓI GIÁC NGỘ - TAM TẠNG KINH ĐIỂN